Sóng triều đẩy con thuyền dạt vào bờ, trời đã sáng rõ. Hải Triều đang buộc dây thuyền vào gốc cây bên bãi thì bỗng nghe thấy tiếng “sàn sạt” vang lên từ phía sau.
Nàng ngoảnh đầu nhìn lại, là A Cốc đang kéo lưới đánh cá từ xa đi tới.
Nàng vẫy vẫy tay với hắn: “A Cốc!”
A Cốc buông lưới, sải bước chạy nhanh về phía nàng: “Chẳng phải hôm nay muội làm tân nương tử sao? Sao còn ra khơi? Hắn liếc nhìn con thuyền sũng nước: “Vừa mới về à?”
“Ta tỉnh sớm quá nên đi dạo loanh quanh thôi, chẳng thu được gì cả.” Hải Triều sợ hắn hỏi nhiều, nhanh tay thắt nút dây thừng rồi dùng lực kéo mạnh một cái, vội vàng muốn rời đi: “Ta đi trước đây, hôm nay sóng hơi dữ, ngươi ra ngoài cẩn thận nhé, về sớm một chút.”
“Tiểu Hải Triều.” A Cốc gọi giật giọng ở phía sau, “Đừng vội đi.”
Hải Triều đành phải dừng bước: “Có chuyện gì vậy?”
A Cốc có chút ngập ngừng.
Tim Hải Triều dần chùng xuống: “Có gì ngươi cứ nói đi.”
A Cốc gãi gãi sau gáy, chép miệng một cái: “Vậy ta nói thẳng nhé, chuyện thành thân ấy, muội có muốn suy nghĩ lại không?”
“Ta nghĩ kỹ rồi mà.” Hải Triều đáp, “Lần trước chẳng phải đã nói rồi sao.”
“Ta biết.” A Cốc nhíu mày, “Nhưng ta cứ cân nhắc đi cân nhắc lại, trong lòng thấy không yên… Muội nói xem, hắn đường đường là một Thám hoa lang, đang làm quan yên ổn ở kinh thành sao tự dưng lại chạy về đây…”
Hải Triều cúi đầu nhìn những con sóng trắng xóa bò lên bãi cát, nuốt chửng lấy mu bàn chân nàng: “Ngươi muốn nói gì thì cứ nói đi, đừng vòng vo nữa.”
A Cốc thở dài một tiếng: “Ta chỉ đang nghĩ, hay là hắn phạm phải chuyện gì ở kinh thành nên mới chạy về đây lánh nạn?”
Hải Triều ngẩng đầu cười cười: “Thật sự là vậy cũng không sao, thành thân xong chúng ta sẽ đi thành Liêm Châu, nhất định không gây họa cho dân làng đâu.”
A Cốc giơ tay vỗ nhẹ vào đầu nàng một cái: “Nói năng kiểu gì thế, muội coi bọn ta là hạng người nào?”
Hải Triều thấy hốc mắt hắn đỏ lên, trong lòng chợt dâng lên cảm giác áy náy: “Xin lỗi, ta không có ý đó…”
“Không nói chuyện khác, năm đó mạng của cả làng này đều là do cha mẹ muội cứu về, dù thế nào bọn ta cũng phải chăm sóc muội thật tốt. Chỉ là ta cứ thấy chuyện này kỳ quặc thế nào ấy, tối qua gặp Sa bà, bà ấy lại nói mấy lời quái gở, làm lòng ta cứ thấy gai gai… Hay là muội cứ đợi thêm xem sao, thành thân cũng đâu gấp gáp gì vài ngày này…”
“Sa bà lẩm cẩm rồi, sao ngươi còn tin lời bà ấy chứ,” Hải Triều “phì” cười một tiếng, cũng không hỏi bà lão đã nói những gì: “Yên tâm đi, ta biết mình đang làm gì mà, dù có chuyện gì xảy ra ta cũng sẽ cùng huynh ấy gánh vác. Ngươi cứ việc kê cao gối mà ngủ, vui vẻ đến uống rượu mừng là được.”
“Muội sắt đá quá nhỉ?” A Cốc bất lực: “Ai khuyên cũng không được sao?”
“Phải!” Hải Triều gật đầu thật mạnh, “Ai khuyên cũng không được.”
Đôi vai A Cốc chùng xuống, hắn quệt mặt một cái rồi nặn ra nụ cười, nhưng trong mắt vẫn là nỗi lo âu không dứt: “Được rồi, từ nhỏ muội đã là người có chủ kiến, nếu có chuyện gì thì đừng có giấu giếm, cứ đến tìm ca ca.”
Dừng một chút, hắn lại nói tiếp: “Nếu tên tiểu tử đó dám bắt nạt muội lần nữa…”
“Không đâu, không đâu mà.” Hải Triều vội vàng tiếp lời, “Huynh ấy đối xử với ta tốt lắm, chỉ có ta bắt nạt huynh ấy thôi.”
A Cốc cười lắc đầu, lẩm bẩm điều gì đó rồi quay người đi tới ven bờ nhặt lưới, kéo lên thuyền.
Bị trì hoãn một lúc, khi Hải Triều về đến căn nhà nhỏ thì mặt trời đã cao quá mái hiên.
Nàng đẩy cửa bước vào, phát hiện Lương Dạ đã dậy rồi, chăn gối được gấp gọn gàng đặt ở cuối giường, hắn ngồi bên mép giường, cúi đầu nhìn bộ hỉ phục trải trên mặt đệm, dường như đang xuất thần.
Nghe thấy tiếng động, hắn ngẩng lên, vẻ mặt có chút thẫn thờ.
Có lẽ nhờ vừa chợp mắt một lúc nên gương mặt không còn xanh xao như trước, hai gò má thậm chí còn hơi hồng.
Hải Triều nở nụ cười: “Ta về rồi đây. Chàng ngủ có ngon không?”
Ánh mắt Lương Dạ thanh tỉnh hơn đôi chút, trên mặt thoáng hiện ý cười, hắn đứng dậy ôm nàng vào lòng: “Ừ, ta ngủ rất ngon, cũng vừa mới dậy thôi.”
“Sao không ngủ thêm chút nữa.” Hải Triều bước về phía hắn.
Lương Dạ nắm lấy ngón tay nàng, khẽ cau mày: “Sao lại lạnh thế này.” Nói rồi, hắn ủ chặt hai bàn tay nàng vào lòng mình, tỉ mỉ x** n*n cho ấm lên, lại cúi đầu nhìn kỹ mắt nàng.
Hải Triều quay mặt đi, vờ như không có chuyện gì nói: “Có phải mắt hơi sưng không? Lúc nãy bị cát bay vào, ta dụi nên mới thế đấy.”
“Lần sau đừng dụi, hỏng mắt đấy.” Lương Dạ dặn dò.
“Lần sau chàng thổi giúp ta là được mà.” Hải Triều vừa nói vừa thoát khỏi vòng tay hắn, “Ta đi rửa mặt thay y phục đã, rồi chúng ta ra mộ mẹ chàng và cha mẹ muội.”
Ánh mắt Lương Dạ chợt tối sầm lại, như thể vừa bị một tầng mây mù che phủ.
Hải Triều biết hắn lại nhớ đến Lương nương tử, nàng nhẹ nhàng đặt tay lên mu bàn tay hắn: “Sắp thành thân rồi, dù sao cũng phải thưa với họ một tiếng.”
“Ừ.” Lương Dạ đáp khẽ, ngay sau đó lại gọi nàng: “Hải Triều…”
Hải Triều lập tức ngước mắt, cảnh giác hỏi: “Sao vậy?”
“Hôn sự của chúng ta, có phải là quá gấp gáp rồi không?”
Hải Triều nhìn chằm chằm vào mắt hắn: “Sao nào, chẳng lẽ chàng hối hận?”
“Dĩ nhiên là không.” Lương Dạ rủ mắt, nhìn bộ “hỉ phục” không hoa văn cũng chẳng thêu thùa đang đặt trên giường, thứ ấy thật chẳng đáng gọi là đồ cưới: “Chỉ là, để nàng chịu thiệt thòi quá.”
“Ta cần mấy bộ y phục sặc sỡ đó làm gì, chàng tặng ta dao găm và vỏ dao tốt như thế còn chưa đủ sao?”
“Chưa đủ.” Lương Dạ không chút do dự đáp, “Hơn nữa ta…”
Hải Triều không đợi hắn nói hết đã ngắt lời: “Đừng có hơn nữa với chẳng nhưng nhị nữa, ta đói rồi, chàng mau đi nấu cháo đi. Đúng rồi, lát nữa qua chỗ La tam thúc xem rượu nữ nhi đã đào lên chưa, nếu có thì mua lấy hai lượng, để họ nếm thử rượu mừng của chúng ta trước.”
“Được.” Lương Dạ đặt một nụ hôn nhẹ lên bầu mắt đỏ hoe của nàng, rồi mới vào bếp bận rộn.
Khu mộ cách làng khoảng chừng một dặm đường.
Dẫu đang tiết giữa xuân, nhưng mặt trời đứng bóng chiếu xuống cũng hơi nóng bức.
Mộ nằm trên sườn núi hướng ra biển, là nơi cha mẹ nàng khi còn sống đã chọn sẵn, dưới một gốc cây đa cổ thụ mấy người ôm không xuể.
Cành lá đan xen dọc ngang, che khuất cả thiên quang như một gian nhà lớn.
Mẹ nàng sợ Lương nương tử cô quạnh nên cũng táng bà dưới gốc cây này, để khi xuống suối vàng hai nhà vẫn có thể làm hàng xóm.
Lúc leo đến đỉnh núi, Hải Triều bỗng thấy váng đầu, suýt chút nữa đã đứng không vững mà vấp phải rễ đa chằng chịt, may sao Lương Dạ kịp thời đỡ lấy nàng.
Hải Triều ngẩng đầu lên, bắt gặp ngay một đôi mắt đầy lo âu.
“Ta không sao.” Nàng mỉm cười, ngồi bệt xuống rễ cây: “Vừa nãy leo nhanh quá thôi.”
Lương Dạ không nói gì thêm, chỉ đặt giỏ đựng đồ lễ và hương nến sang một bên, khẽ rủ mi mắt, lẳng lặng lấy từ trong bọc ra một chiếc khăn tay sạch sẽ thấm mồ hôi cho nàng.
Hải Triều cầm lấy chiếc khăn, sụt sịt mũi: “Hoa móng tay gần đây hình như nở rồi, chàng đi hái một ít về đây đi.”
Lương nương tử rất thích hương hoa móng tay, mỗi năm vào mùa hoa nở, nếu Hải Triều lên núi đều sẽ hái một ít mang về cho bà. Bà sẽ phơi khô một phần làm túi thơm đeo bên mình, phần còn lại cắm cùng cành lá quế trong một chiếc bình gốm nhỏ.
Những nhành hoa lá dại thường thấy trong núi rừng, qua bàn tay sắp đặt của bà trong chiếc bình gốm thô kệch sứt mẻ, bỗng chốc trở nên đẹp đẽ như thể bước ra từ bức họa cổ.
Hải Triều nghỉ ngơi một lát rồi đi tới trước ba ngôi mộ của các bậc tiền bối, bắt đầu nhổ cỏ dại trên đó.
Cứ cách một khoảng thời gian nàng lại lên núi thăm nom, dọn dẹp cỏ dại lá khô, ngồi trước mộ một hồi để trò chuyện với họ. Đặc biệt là sau khi Lương Dạ lên kinh, mỗi lần nhận được thư của hắn, nàng đều chạy lên núi, kể cho họ nghe những chuyện thú vị mà hắn viết trong thư.
Nàng vừa nhổ cỏ vừa nhớ lại những phong thư ấy. Tuy chúng đã bị nàng ném vào lò sưởi đốt sạch, nhưng mỗi một lá thư nàng đều đã đọc đi đọc lại vô số lần, nâng niu không biết bao nhiêu bận, không chỉ thuộc lòng mà còn nhớ như in.
Chẳng bao lâu sau, Lương Dạ đã hái hoa quay về. Ngoài hoa móng tay và lá quế, còn có một bó hoa dâm bụt đỏ rực như lửa.
Đôi mắt Hải Triều sáng lên, đây là loài hoa nàng thích nhất.
Nhưng ngay sau đó, như thể bị lửa đốt, nụ cười trên khóe môi nàng bỗng đông cứng lại.
Nàng vội vàng cúi người, vờ như đang kiểm kê đồ cúng trong giỏ.
Đến khi nàng đứng thẳng người lên, mọi thứ đã trở lại bình thường.
Nàng nhận lấy bó hoa dâm bụt, dùng đầu ngón tay khẽ gạt cánh hoa: “Đẹp thật đấy, về nhà chàng kết cho ta một vòng hoa, để ta đeo lúc thành thân có được không?”
“Được.” Lương Dạ đáp.
Hải Triều bỗng nảy ý trêu chọc, nàng ngắt một bông, kiễng chân cài lên búi tóc của hắn. Nàng nghiêng đầu ngắm nghía một hồi rồi liên tục lắc đầu: “Không ổn, không ổn, không thể cài cho chàng được, nếu không người ta lại bảo tân lang còn xinh đẹp hơn cả tân nương mất.”
Lương Dạ cứ để mặc nàng đùa nghịch, hắn nhìn nàng với ánh mắt chứa đựng ý cười dịu dàng. Cuối cùng, hắn gỡ bông hoa trên tóc mình xuống, tỉ mỉ cài lên bên tóc mai của nàng, ngón tay khẽ lướt qua gò má: “Vẫn là nàng cài mới đẹp.”
Mặt Hải Triều nóng bừng lên, nàng vỗ hắn một cái, lẩm bẩm: “Cha mẹ ta đang nhìn kia kìa!”
Hai người đi tới trước bia mộ, bày biện từng món đồ cúng, thắp hương nến rồi rót rượu.
Sau khi dập đầu, dùng khăn sạch phủi đi lớp bụi trên bia mộ, Hải Triều đứng dậy, chậm rãi tưới chén rượu nữ nhi xuống đất, giọng nói nhẹ nhàng mà hoan hỉ: “Cha, mẹ, con và Tiểu Dạ sắp thành thân rồi. Đây là rượu nữ nhi mà hai người đã chôn cho con, hai người nếm thử xem… Thơm lắm phải không? Hai người cũng mừng cho chúng con chứ?”
Nàng quay sang nhìn Lương Dạ, thấy hắn mím chặt môi hơi chau mày, những cơn gió mang theo hơi ẩm nhè nhẹ thổi tung vạt áo hắn, trông hắn như thể có thể cưỡi gió bay đi bất cứ lúc nào.
Tim Hải Triều đập loạn một nhịp, nàng vội vàng túm lấy ống tay áo hắn: “Chàng cũng nói vài câu đi chứ.”
Lương Dạ gật đầu, cúi mình hành lễ trước bia mộ của hai vị trưởng bối, nhỏ giọng nói: “Vọng thúc, Dư dì, xin lỗi hai người, con đã không chăm sóc tốt cho Hải Triều, để nàng ấy phải chịu uất ức rồi…”
Hải Triều không đợi hắn nói hết, dùng khuỷu tay thúc hắn một cái: “Ai mượn chàng nói chuyện này!”
Lương Dạ xoay người, dùng đôi mắt thâm trầm đen lánh nhìn nàng rồi im lặng.
Chim chóc côn trùng trong rừng dường như cũng lặng đi, chỉ còn tiếng gió thổi lá cây xào xạc.
“Chàng phải nói là chàng sẽ đối tốt với ta cả đời, sẽ không bao giờ rời xa ta nữa, không để ta phải khóc.” Hải Triều nhìn bia mộ nói.
Đôi môi Lương Dạ khẽ động đậy.
Không đợi hắn lên tiếng, Hải Triều đã bảo: “Thôi bỏ đi, có những lời cũng không nhất thiết phải nói ra, chàng nói ra ta nghe cũng thấy nổi da gà lắm. Cha mẹ ta nhìn chàng lớn lên, họ biết chàng là người thế nào mà.”
Nàng phủi bụi và vụn lá khô trên đầu gối: “Chúng ta đi bái tế mẹ của chàng đi.”
Hai người dập đầu xong rồi đứng dậy, trong phút chốc chẳng biết nên nói gì cho phải.
Hải Triều định nói gì đó, nhưng chợt nhớ tới ánh mắt thỉnh thoảng nhìn thấy khi Lương nương tử nhìn Lương Dạ, cổ họng nàng như nghẹn lại, không biết nên nói gì nữa.
Lương Dạ vô cảm nhìn chằm chằm vào bia mộ, trong mắt trống rỗng vô cùng, không có một chút mẫu tử tình thâm cũng chẳng chút oán hận, cứ như thể đang nhìn một người xa lạ vốn chẳng liên can gì đến mình.
Khi mẹ hắn còn tại thế, phần lớn thời gian họ đều nhìn nhau bằng ánh mắt như vậy, khác biệt duy nhất là đôi khi trong mắt mẹ hắn đôi khi sẽ lộ ra ý hận không thể kìm nén được.
Hải Triều cứ ngỡ hắn đứng trước mộ mẹ cũng sẽ chẳng nói lời nào, nào ngờ hắn lại cất tiếng.
“A nương.” hắn thốt ra danh xưng có phần xa lạ ấy, tựa như đang đào từ trong cổ họng ra hai chiếc gai nhọn, “Nếu bà ở trên trời có linh thiêng, xin hãy phù hộ cho Hải Triều sống lâu trăm tuổi, từ nay về sau không tai không nạn, vạn sự hanh thông.”
Hai người vẩy rượu, chia hoa móng tay ra làm đôi, lần lượt đặt trước mộ mẫu thân mỗi người.
Lương Dạ nhấc giỏ lên, Hải Triều ôm bó hoa dâm bụt lớn: “Chúng ta xuống núi thôi, đám người La thúc chắc sắp đến rồi.”
Mới đi được vài bước, gió bỗng nổi lên, trời cũng sầm sì tăm tối.
Hải Triều ngoảnh lại nhìn, bó hoa móng tay trước mộ Lương nương tử đã bị gió thổi rơi vãi đầy đất.
Nàng nhét bó hoa dâm bụt vào lòng Lương Dạ: “Chàng đợi ta một chút.”
“Đừng quản nữa.” Lương Dạ rõ ràng cũng đã chú ý tới những bông hoa trước mộ mẫu thân mình.
Hải Triều lại bỗng bướng bỉnh lạ thường, nàng nói một câu “đợi ta” rồi liền xoay người chạy về phía mộ Lương nương tử.
Nàng cúi người nhặt những đóa hoa móng tay rơi vãi khắp nơi lên, dùng dao đào một cái hố nhỏ, gom hoa lại thành bó rồi cắm thật sâu vào, lấp đất lại rồi vỗ cho chặt. Lần này, dù gió có lớn đến đâu cũng không thổi đi được nữa.
Nàng khẽ chạm vào bia mộ, giống như khi còn nhỏ thường chạm vào bàn tay luôn lạnh lẽo của Lương nương tử, nhẹ nhàng mà kiên định nói: “Lương nương tử, Tiểu Dạ là do người mang đến thế gian này, xin người hãy phù hộ cho chàng được bình an, mọi sự đều bình an…”
Phía sau vang lên tiếng bước chân, là Lương Dạ đang đi về phía nàng.
Nàng vội vàng dụi mắt, quay người chạy đến trước mặt hắn, níu lấy ống tay áo: “Đi thôi.”
Dưới vách đá phía sau họ, gió cuộn lên những đợt sóng cao, không biết mệt mỏi vỗ vào bờ cát, để lại từng lớp bọt trắng xóa như những đóa hoa móng tay vụn nát.
Hải Triều nghe tiếng sóng biển mà có chút thẫn thờ, trong lúc ngẩn ngơ thì Lương Dạ đã cởi áo khoác ngoài, đang choàng lên vai nàng.
“Ta không lạnh đâu.” Nàng vội nói, “Cơ thể ta còn khỏe hơn chàng đấy, không sợ lạnh đâu, chàng mau mặc vào đi.”
Lương Dạ không nói gì, chỉ giúp nàng khoác áo, thắt chặt dây lưng.
Y phục mang theo hơi ấm từ cơ thể hắn, một mùi hương thanh khiết pha lẫn vị đắng nhẹ tức khắc bao bọc lấy nàng.
Hải Triều khẽ hít hà, một luồng ấm áp an lòng từ đáy lòng dâng lên.
Nàng ôm bó hoa dâm bụt trong lòng chặt hơn một chút.
Cả hai đều không nói gì thêm, thời tiết ngày càng âm u. Đến khi họ xuống núi, mây xám đã sà xuống thấp, đứng từ xa cũng có thể nghe thấy tiếng sóng gầm vang đập vào bờ đá.
Về đến nhà, dân làng đã tụ họp đông đủ.
Có người đang dựng lều bạt bằng vải dầu xanh, có người đang làm gà mổ cá, ngay cả đám trẻ con cũng không rảnh rang, chúng giúp nhặt rau rừng, rửa rong biển, tuyển chọn quả dại, xâu hoa rừng thành chuỗi hoặc kết thành vòng hoa.
Hải Triều đảo mắt nhìn qua một lượt, phát hiện gần như cả làng đều đã đến, duy chỉ thiếu Sa bà.
A Cốc để trần cánh tay vạm vỡ chặt chân cừu trước bục gỗ, thoáng thấy hai người, hắn buông dao chặt xương, rửa sạch vết máu trên tay rồi bước về phía họ.
“A Cốc.” Hải Triều cất lời chào, “Sao Sa bà không tới ?”
Trên mặt A Cốc thoáng qua vẻ lúng túng: “Trong người bà ấy không khỏe lắm, đang nghỉ trong nhà, đợi đến tối uống rượu mừng mới qua.”
“Bà ấy bị làm sao vậy?” Hải Triều không khỏi lo lắng.
“Không sao, không sao đâu.” A Cốc vội trấn an nàng, “Bệnh cũ tái phát thôi, sáng sớm chạy ra ngoài đón gió nên bị nhiễm lạnh ấy mà.”
“Bên đó có ai trông nom bà ấy không?”
“Có đại tỷ nhà họ Lý ở đó rồi, tân nương tử đừng bận tâm nữa, mau về nghỉ ngơi đi, lát nữa còn khối việc phải làm đấy.” A Cốc nhe răng cười một nụ cười sảng khoái, nhưng trong mắt lại thoáng ẩn hiện nỗi lo âu, dường như cũng bị bầu trời mây đen vần vũ nhuộm thành một màu xám xịt.
Ngay lúc đó, chân trời bỗng có một tiếng sấm trầm đục lăn qua.
Tất cả mọi người đều không hẹn mà cùng ngẩng đầu nhìn trời.
A Cốc xoa xoa cằm, tự lẩm bẩm một mình: “Xem chừng sắp đổ mưa rồi đây…”
Hải Triều hiểu ý ám chỉ của hắn, liền cướp lời: “Chẳng phải đã dựng lều vải dầu rồi sao? Mưa cũng không sợ.”
Đều là những người lớn lên và kiếm sống trên mặt nước, ai lại sợ mưa rơi chứ.
“Mưa thì không đáng ngại.” A Cốc quay đầu nhìn ra phía biển, “Nhưng nếu dông gió kéo đến, tối nay hai người làm sao ra bái kiến Ba Bà được?”
Hải Triều ngẩn người.
A Cốc kinh ngạc trợn tròn mắt: “Muội quên rồi sao?”
Hải Triều gật đầu, nàng chỉ một lòng nôn nóng muốn thành thân với Tiểu Dạ, quả thực đã quên mất chuyện này.
Ba Bà là vị thần linh mà dân chài thôn Đản bọn họ tôn thờ.
Trong vùng biển gần đó có một tảng đá ngầm, vào những đêm trời thanh gió mát, dưới ánh trăng nhìn lại trông dáng dấp y hệt một nữ nhân từ bi hiền hậu. Suốt mấy trăm năm qua, dân làng nơi đây luôn coi đó là hóa thân của Ba Bà.
Theo lệ cũ từ đời cha ông truyền lại, nam nữ trong làng đêm thành thân phải chèo thuyền ra khơi bái lạy Ba Bà, hôn sự nhận được lời chúc phúc của Bà mới có thể bền lâu.
Đêm tân hôn, họ phải lái thuyền ra khơi, đi tới hòn đảo nhỏ giữa biển, cùng nhau bái lạy Ba Bà dưới ánh trăng thì mới coi như thực sự hoàn tất lễ thành hôn.
“Hôm nay không bái được thì thôi không bái nữa.” Hải Triều nói, “Cùng lắm thì để lần sau bù vào.”
A Cốc định mở miệng nói gì đó thì Tam thẩm từ phía sau bước nhanh tới, vỗ một cái lên đầu Hải Triều: “Cái con bé này, nói bậy bạ gì thế! Làm gì có cái lệ ấy!”
Vừa nói, Tam thẩm vừa chắp tay lầm rầm khấn vái: “Trẻ con nhỏ dại không hiểu chuyện ăn nói hàm hồ, có lỡ mạo phạm đến Bà, xin Bà nhìn vào tình cảnh cha mẹ nó mất sớm mà đừng chấp nhặt…”
Tam thẩm nhìn sang Lương Dạ: “Theo ý thẩm, chuyện hôn sự của hai đứa đã là ván đóng thuyền rồi, cũng chẳng gấp gáp gì một hai ngày này… Tiểu Dạ, cháu thấy có đúng không?”
Không đợi Lương Dạ trả lời, Hải Triều đã cướp lời: “Tam thẩm, huynh ấy không gấp, là cháu giục huynh ấy đấy.”
Tam thẩm lườm nàng một cái, vẻ mặt “rèn sắt không thành thép”.
Hải Triều nói tiếp: “Hơn nữa lều bạt đã dựng xong cả rồi, dê với gà vịt cũng đều đã mổ thịt, không để lâu được. Đám cưới này không thành cũng phải thành thôi.”
Tam thẩm có chút khó xử, nhưng vẫn không chịu buông lỏng: “Dù sao thì Ba Bà nhất định phải bái, nếu không sẽ không cát lợi. Bằng không sau này xuống suối vàng gặp A nương cháu, bà ấy cũng sẽ trách thẩm.”
“A nương cháu sẽ không trách thẩm đâu mà.”
Tam thẩm nhất quyết không nhượng bộ, cuối cùng thật sự hết cách, Tam thẩm đành túm lấy ống tay áo Lương Dạ: “Tiểu Dạ, cháu là đứa trẻ hiểu chuyện, cháu mau khuyên bảo Hải Triều đi.”
A Cốc xoa xoa thái dương, xen vào nói: “Theo ta thì thế này, lều đã dựng rồi, rượu mừng tối nay cứ uống, lễ bái đường cứ hành. Nếu gió lớn không ra khơi được thì đợi khi nào lặng gió hai đứa hãy đi.”
Hắn thu lại nụ cười: “Tiểu Hải Triều, các bậc trưởng bối nhìn hai đứa lớn lên từ nhỏ, ai cũng mong điều tốt đẹp cho hai đứa cả…”
Hải Triều định nói thêm gì đó, nhưng Lương Dạ đã nắm nhẹ đầu ngón tay nàng: “Hải Triều, cứ vậy đi, chỉ là chờ thêm một ngày thôi mà.”
Hải Triều nhìn vào mắt hắn một hồi, cuối cùng cũng thỏa hiệp: “Vậy cứ nghe lời Tam thẩm ạ.”
Bấy giờ Tam thẩm mới thở phào nhẹ nhõm: “Ba Bà nhất định sẽ phù hộ cho hai đứa trăm năm hạnh phúc.”
Bà hớn hở choàng vai Hải Triều: “Thẩm đi giết gà trước đã, lát nữa sẽ qua giúp cháu chải đầu trang điểm…”
A Cốc trêu: “Thẩm cứ để đại tỷ qua làm cho, người mà nhúng tay vào, khéo lại tô con bé Hải Triều nhà ta thành đít khỉ mất.”
Tam thẩm mắng yêu một câu, vừa cười vừa quay người bước đi.
Đi được vài bước bà lại ngoái đầu nhìn Hải Triều và Lương Dạ: “Lũ trẻ bây giờ thật là nôn nóng, ngày tháng sau này còn dài lắm mà…”
“Phải ạ, còn cả một đời cơ mà.” Hải Triều nắm chặt tay Lương Dạ, nhìn về phía đường chân trời tiếp giáp biển, khẽ nói: “Trời rồi sẽ hửng sáng, đúng không?”
Không đợi Lương Dạ trả lời, nàng lại nhìn về phía mặt biển: “Nhất định sẽ hửng sáng thôi.”
Lương Dạ nhìn theo tầm mắt của nàng, thấy một bóng đen nhỏ bé lúc ẩn lúc hiện trong sóng nước, đó chính là tảng đá ngầm mang hình dáng người ấy.
“Từ nhỏ đến lớn, mỗi lần nhặt được vỏ sò nào đẹp ta đều bí mật gom lại để cúng cho Bà, sau này bắt được con cá đầu tiên, hái được viên ngọc đầu tiên, ta cũng cúng cho Bà. Người trong làng hễ có chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng đến cầu xin Bà, còn ta thì không bao giờ dám, chỉ sợ cầu xin nhiều quá Bà sẽ thấy ta phiền phức, đến lúc có chuyện hệ trọng thật sự cầu nguyện lại không linh nữa.”
Một bàn tay khẽ đặt lên vai nàng.
Hải Triều đưa tay nắm lấy những ngón tay thuôn dài của hắn, nhưng mắt vẫn nhìn trân trân vào tảng đá ngầm thấp thoáng trong làn sương nước: “Đời này ta chỉ cầu xin Bà đúng ba chuyện, Bà cũng phải thực hiện cho ta được một chuyện chứ.”
“Đây là Bà nợ ta.”
Nàng ngẩng mặt lên: “Cho nên tối nay nhất định trời sẽ hửng sáng, phải không?”
Lương Dạ gật đầu: “Nhất định sẽ hửng sáng.”
Tinh Nguyệt: 1 chương này dài 26 trang word, bằng 3 lần 1 chương bình thường nên tôi sẽ chia làm 3 chương nhé.
Hải Triều nở một cười rạng rỡ, dắt hắn đi về phía dân làng đang tụ tập: “Chúng ta cũng đi làm việc thôi.”
Chẳng biết có phải Ba Bà đã nghe thấy tâm nguyện của Hải Triều hay không mà sau một trận mưa rào, mây mù tan đi, trời quang mây tạnh thật.
Trời vừa tạnh, dân làng đang trú mưa trong căn nhà nhỏ của Hải Triều lại tiếp tục ra ngoài chuẩn bị cho tiệc rượu đêm nay.
Hải Triều cũng muốn giúp đám Tam thẩm cạo vảy cá, nhưng bị bà đẩy ra một bên: “Cháu làm tân nương tử thì đừng có động vào làm gì cho loạn, mang cả người đầy mùi tanh cá vào động phòng, không sợ Tiểu Dạ nhà cháu chê à?”
Hải Triều nhăn mũi: “Huynh ấy mà dám chê, cháu đánh huynh ấy luôn!”
Tam thẩm “xì” một tiếng: “Cháu mà nỡ thì mới là lạ đấy, chưa thành thân đã quý trọng người ta như báu vật rồi.”
Mọi người đều cười rộ lên.
Dù sao da mặt Hải Triều cũng mỏng, bị họ cười cho một trận thì mặt đỏ bừng như gấc, lẩm bẩm một câu “Cháu đi giúp A Cốc chặt chân cừu”, rồi chạy biến.
Nhưng A Cốc không có ở đó, người đang vung dao trên thớt là Mã Tử.
Hải Triều dáo dác nhìn quanh một vòng, mới phát hiện A Cốc và Lương Dạ đang đứng ở bãi cát xa cách đám đông, không biết đang nói chuyện gì.
Nàng bước về phía họ vài bước, rồi lại đổi ý dừng chân lại.
Đợi hồi lâu, cuối cùng hai người họ cũng nói xong. A Cốc vỗ vai Lương Dạ, lúc này cả hai mới quay người đi về phía đám đông.
Hải Triều chờ một lúc rồi mới vờ như vô tình đi đến bên cạnh A Cốc: “Lúc nãy ngươi tìm Tiểu Dạ nói chuyện gì thế?”
A Cốc tức giận lườm nàng một cái: “Sao muội không đi mà hỏi hắn?”
Hải Triều vân vê khuỷu tay: “Huynh ấy chịu uất ức chẳng bao giờ chịu nói ra cả…”
Lời còn chưa dứt, trán nàng đã bị búng một cái.
“Chưa gả đi mà đã bênh người ngoài chằm chằm rồi!” A Cốc giả vờ giận dữ.
“Sao lại là bênh người ngoài, kiểu gì thì Tiểu Dạ cũng là người nhà mình hơn ngươi chứ.”
A Cốc quay người đi, không buồn để ý đến nàng nữa.
Hải Triều vòng sang phía bên kia thớt gỗ: “Ngươi nói đi mà, nói chuyện lâu thế rốt cuộc là bảo gì?”
A Cốc hậm hực một lát mới nói: “Là hắn chủ động đến tìm ta.”
“Hả?”
A Cốc thoăn thoắt chặt sườn cừu, vừa nói: “Hắn hỏi ta bao giờ tàu buôn nhổ neo, nói là thành thân xong muốn đi theo ra khơi…”
Hắn ngẩng đầu nhìn Hải Triều một cái, nhíu mày buông dao xuống, quơ quơ bàn tay to trước mắt nàng: “Làm sao thế này? Bị sét đánh ngây người ra rồi à?”
Hải Triều sực tỉnh: “Không có gì, chỉ là ta không ngờ tới, huynh ấy chưa từng nói với ta… Ngươi đồng ý rồi sao?”
A Cốc đáp: “Ta chưa nói chết lời, còn phải nhờ người mang tin đi hỏi chủ tàu đã, dù sao đó cũng chẳng phải tàu của ta. Có điều hai đứa, một người biết đánh đấm, một người biết chữ nghĩa tính toán, chỉ cần lần đầu đừng đòi giá cao quá thì tám chín phần mười là được.”
Hải Triều mím môi: “Đợi một thời gian nữa, ngươi có thể bảo với huynh ấy là đã hỏi chủ tàu và trên tàu không thiếu người được không?”
A Cốc nhướn mày: “Chẳng phải muội luôn muốn theo tàu đi đó đi đây xem cho biết đó biết đây sao? Khó khăn lắm tên tiểu tử đó mới chịu đi cùng muội, muội còn không vừa lòng chuyện gì nữa?”
“Thì ta lại đổi ý rồi mà.” Hải Triều nhìn ra mặt biển, “Từ nhỏ tới lớn ngày nào cũng lênh đênh trên biển, ta cũng muốn sống một cuộc đời khác đi.”
A Cốc nghi ngờ nhìn nàng: “Muội có thủy tính và võ nghệ tốt như vậy, không kiếm sống trên thuyền, chẳng lẽ định đi làm bảo tiêu trông nhà hộ viện cho người ta chắc?”
“Trông nhà hộ viện thì có sao đâu.” Hải Triều đáp, “Tiểu Dạ biết chữ nghĩa tính toán, ta thì có sức lực, ở quận thành tìm kế sinh nhai cũng chẳng khó gì.”
“Tiểu Hải Triều.” A Cốc quan sát kỹ gương mặt nàng, “Có phải muội có chuyện gì giấu ta không? Đừng sợ, dù có phạm phải chuyện tày trời, bọn ta cũng sẽ cùng muội nghĩ cách.”
Hải Triều cười bảo: “Ngươi nghĩ đi đâu thế! Nếu thật sự phạm chuyện gì ta đã chẳng mong được theo thuyền của các huynh ra khơi quá đi chứ.”
“Cũng đúng.” A Cốc thở phào nhẹ nhõm.
“Sức khỏe Tiểu Dạ không được tốt, lại có bệnh ho khan, thuyền buôn hễ đi là lênh đênh mấy tháng trời trên biển, ta chỉ là không muốn huynh ấy vì làm ta vui mà phải chịu khổ thôi.”
“Thành thân rồi muội không được nuông chiều hắn như thế.” A Cốc nói, “Nam nhân trong xương tủy đều hèn lắm, muội càng coi trọng hắn, hắn lại càng coi thường muội.”
“Tiểu Dạ không phải hạng người đó.”
A Cốc hừ lạnh một tiếng: “Hôm nay là ngày vui của muội, ta không thèm lôi chuyện cũ ra nữa.”
Hắn chùi tay vào quần, từ trong đai lưng lấy ra một bọc vải nhỏ, bất thình lình ném về phía Hải Triều.
Hải Triều theo bản năng bắt lấy, vừa chạm tay đã thấy nặng trịch, sờ qua là biết bạc.
Nàng định ném trả lại, A Cốc đã vung dao lườm nàng một cái: “Cầm lấy!”
“Nhưng chỗ này nhiều quá.” Hải Triều nói, “Tấm lòng của ngươi ta xin nhận, nhưng ngươi lênh đênh trên biển cả năm trời kiếm được bao nhiêu bạc đâu, mau giữ lấy mà lấy vợ cho ta sớm có tẩu tử chứ!”
A Cốc cười nhạt một tiếng: “Muội nghèo rớt mồng tơi mà còn bày đặt lo cho ta. Hai đứa thành thân xong là đến chuyện sinh con đẻ cái, chỗ cần tiêu tiền còn nhiều lắm, chẳng lẽ muội định đi làm bảo tiêu nuôi con thật đấy à?”
Hải Triều biết không thể từ chối, đành thu bạc vào.
A Cốc bấy giờ mới nhe răng cười: “Thế còn nghe được.”
Hải Triều xắn tay áo lên: “Không thể lấy không bạc của A Cốc được, để ta giúp ngươi chặt thịt.”
“Đi đi đi!” A Cốc xua tay đuổi nàng, “Mau vào nhà mà sửa soạn đi, sắp làm tân nương tử đến nơi rồi.”
Vừa hay lúc này Tam thẩm đã làm cá xong, bà rửa sạch tay, dùng xà phòng chà đi mùi tanh rồi cùng đám nữ nhân vây quanh đưa Hải Triều vào phòng trang điểm.
Nữ nhân ở làng Đản vốn không cầu kỳ, ra khơi cũng chẳng phấn son gì, nhưng thành thân không giống những chuyện khác. Các tỷ muội trong làng đem ngọc trai và hoa nhài khô giã nát nghiền mịn làm phấn thơm, cuống quýt bôi lên mặt nàng, lại dùng cao tô mộc làm phấn hồng nhuộm đôi gò má nàng đỏ rực một mảng.
Vẽ mặt xong, Tam thẩm giúp nàng chải tóc. Tam thẩm là tết tóc búi đầu có có tiếng trong làng, đôi bàn tay vì lao động quanh năm nên thô ráp đỏ ửng, khớp xương sưng to, nhưng điều đó chẳng hề ảnh hưởng đến linh hoạt.
Bà tết tóc cho Hải Triều thành từng lọn, thỉnh thoảng lại luồn vào một viên ngọc trai nhỏ đã đục lỗ, hoặc những mẩu san hô đỏ hồng, rồi sau đó búi lại thành búi tóc, cuối cùng cài thêm mấy đóa hoa dâm bụt.
Hải Triều lấy bộ “hôn phục” nàng đã chuẩn bị ra, Tam thẩm không nhịn được mà lẩm nhẩm: “Con bé này cũng qua loa quá, bộ y phục này mộc mạc quá rồi, nói sớm một tiếng để thẩm thêu cho mấy đường viền hoa có phải tốt không.”
Hải Triều đeo vòng hoa nhài tây do đám trẻ con kết vào cổ và cổ tay: “Như thế này chẳng phải hết mộc mạc rồi sao?”
Tam thẩm bất lực lắc đầu, từ trong lòng lấy ra một bọc vải nhỏ, mở ra từng lớp, bên trong là một chiếc vòng tay bằng bạc trơn mảnh khảnh, trên đó có khảm một viên san hô đỏ rực như giọt máu.
Hải Triều hiểu ra, vội vàng từ chối: “Đây là của hồi môn của Tiểu Muội, sao cháu có thể lấy được! Với lại cháu cũng không thích đeo mấy thứ này…”
Tam thẩm sa sầm mặt, chẳng nói chẳng rằng lồng ngay chiếc vòng vào cổ tay nàng: “Tiểu Muội còn lâu mới thành thân, có thể đánh chiếc khác. Thẩm cũng chẳng có món đồ gì tốt cho cháu, nếu cháu không nhận tức là chê đồ nhẹ vật nhỏ.”
Nói đoạn, hốc mắt bà đỏ lên: “Lúc mẹ cháu đi có gửi gắm thẩm chăm sóc hai đứa, vậy mà bao năm qua…”
Hải Triều vội ôm lấy eo bà: “Tam thẩm nói gì vậy, bao năm qua mọi người giúp đỡ chúng cháu không ít, cháu và Tiểu Dạ đều nhờ có mọi người cả.”
Tam thẩm lau nước mắt, nhẹ nhàng xoa đầu nàng: “Cứ ngỡ mới hôm qua còn là con bé chân trần chạy nhảy khắp nơi, chớp mắt một cái đã sắp gả đi rồi. Nếu cha mẹ cháu có thể tận mắt nhìn thấy cháu xuất giá, chẳng biết sẽ vui mừng đến nhường nào.”
“Họ nhất định đang ở trên trời nhìn xuống đấy ạ.” Hải Triều khẽ nói.
Tiểu Muội nhà họ La dùng tay áo lau mắt cho mẹ: “Ngày đại hỷ của tỷ tỷ Hải Triều, A nương không được khóc đâu nhé.”
Tam thẩm bật cười hổ thẹn: “Cái thân già này lại chẳng hiểu chuyện bằng một đứa trẻ.”
Mọi người nói cười rôm rả, thời gian trôi qua thật nhanh. Thoắt cái, mặt trời đỏ ửng đã chìm dần xuống mặt biển, ráng chiều nhuộm mặt nước thành một màu vàng rực như đang bùng cháy.
Khi giờ lành sắp đến, đám thanh niên trong làng vây quanh Lương Dạ đến trước cửa thúc giục: “Tân nương tử ơi, mau ra đi! Mau ra đi!”
Lũ trẻ con cũng hùa theo góp vui, một hàng đầu nhỏ xíu chen chúc dưới cửa sổ: “Tân nương tử ơi, mau ra đi!”
Đứa nhỏ nhất mới ba tuổi, bò trên lưng đại ca gặm ngón tay, cũng bi bô gào theo đầy hơi sữa.
Hải Triều đứng dậy bê giỏ chia bánh hỷ cho chúng ăn, rồi định bước ra ngoài luôn. Tam thẩm lại túm chặt lấy nàng, ấn nàng ngồi xuống: “Làm gì có tân nương nào lại vội vàng xuất giá thế này!”
Đại tỷ nhà họ Viên cười bảo: “Tân lang là Thám hoa lang mà, chúng ta cũng nên học theo mấy đại gia tộc trên huyện, bắt hắn làm mười bảy mười tám bài thơ giục cưới mới được!”
Lại có người nói: “Mười bảy mười tám bài mà đòi coi thường Thám hoa lang sao? Ít nhất cũng phải bảy tám mươi bài!”
“Không ổn, không ổn.” Có kẻ lên giọng phản bác quái gở, “Ngươi tưởng làm thơ là đánh cá chắc, quăng lưới một cái là được cả mẻ? Thơ phải viết từng bài một, đợi viết xong bảy tám mươi bài thì trời cũng sáng mất rồi, chẳng lẽ định làm Hải Triều nhà ta cuống chết sao?”
“Lời này chí lý, theo ta thấy, làm hai bài thơ lấy lệ là được rồi, còn lại cứ theo quy tắc của chúng ta mà làm: Phạt rượu!”
Hải Triều cuống quýt: “Bảo huynh ấy làm thơ thì được, chứ uống rượu thì không xong đâu…”
Mọi người nhao nhao trêu chọc: “Chà chà, còn chưa gả đi mà đã xót cho lang quân thế rồi!”
“Chứ còn gì nữa, chẳng phải Tiểu Hải Triều nhà ta từ nhỏ đã biết thương người sao…”
“Hải Triều của chúng ta vừa đảm đang vừa xinh xắn, lại còn biết nóng biết lạnh thế này, tìm khắp trời đất cũng chẳng thấy đâu. Thám hoa lang đúng là phúc đức tu từ kiếp trước…”
Hải Triều bị bọn họ kẻ tung người hứng trêu cho đỏ bừng mặt, hoàn toàn không có sức chống đỡ, dứt khoát bịt tai lại: “Tùy mọi người muốn hành hạ huynh ấy thế nào thì làm, cháu không quản nữa!”
Tiếng gọi tân nương bên ngoài càng lúc càng lớn, có người bắt đầu đập cửa trêu chọc: “Còn không mở cửa, bọn ta dỡ luôn cái cửa này ra đấy…”
Tam thẩm nhận ra giọng con trai mình, xắn tay áo mở then cửa, đứng chắn ngay lối vào: “Ta thấy thằng nhóc nhà ngươi là ngứa da rồi đấy!”
Cửa vừa mở, Hải Triều không tự chủ được mà nhìn ra ngoài. Trong đám đông ồn ã, Lương Dạ lặng lẽ đứng đó nhìn nàng, ánh mắt lay động như mặt biển dưới ánh bình minh, bộ hỷ phục đỏ rực càng tôn lên vẻ phong thần tuấn lãng, đẹp tựa như ngọc của hắn.
Đám nữ nhân ùa tới chặn cửa, che chắn Hải Triều kín mít: “Muốn rước tân nương đi, phải bước qua cửa này của bọn ta đã!”
Sau một hồi náo loạn, Lương Dạ một hơi làm liền mười bài thơ giục cưới, lại uống cạn hai bát rượu lớn, ngay lúc hắn định đón lấy bát thứ ba, Hải Triều cuối cùng cũng nhịn không được, lao tới giữ chặt vành bát: “Huynh ấy không uống được nữa đâu, để ta!”
Lương Dạ nói nhỏ: “Không sao đâu, chút rượu này không say được.”
Nói đoạn, hắn nâng cổ tay nàng lên, cứ thế cầm cả tay nàng mà uống cạn bát rượu.
Tửu lượng của Lương Dạ vốn không tốt, sau ba bát rượu nữ nhi lớn, gương mặt trắng như ngọc của hắn đã ửng hồng, từ gò má đến đuôi mắt tựa như bị ánh hoàng hôn nhuộm thắm.
Mọi người đồng loạt vỗ tay: “Rượu tân nương đút có khác, ngọt lịm nhé! Nhìn Thám hoa lang của chúng ta kìa, ngọt đến mức như vừa ăn mật ấy.”
Có kẻ lại hùa theo: “Thêm bát nữa đi!”
Sắc mặt Hải Triều lập tức thay đổi, có người cười ngay: “Mọi người vừa vừa phai phải thôi, nhìn kìa, Hải Triều cuống lên rồi đấy!”
“Đúng đấy, đừng làm khó tân lang nữa, tôi thấy tân nương sắp rơi nước mắt đến nơi rồi!”
Hải Triều định thanh minh, nhưng vừa ngẩng đầu đã va phải ánh mắt dịu dàng như sóng nước của Lương Dạ, bỗng chốc chẳng nói được lời nào.
Tam thẩm nhìn không nổi nữa: “Con gái lớn thật sự không giữ được trong nhà mà, thôi được rồi, xuất giá thôi!”
Mọi người cười nói đẩy cặp tân nhân ra ngoài cửa.
Phía xa, mặt trời đã chìm sâu xuống biển, chân trời chỉ còn sót lại dư quang màu hồng nhạt lẫn tím. Con thuyền hỷ mới phết lớp dầu thông bóng loáng, chất đầy hoa tươi và thắt lụa hồng, đang dập dềnh nhẹ nhàng theo sóng nước.
Xung quanh lều vải dầu xanh, những đống lửa trại đã được đốt lên. Nhà nhà đều khiêng án thư, ghế dài của gia đình mình ra, lớn nhỏ dài ngắn đủ loại, ngay cả bát đĩa cũng là cả làng cùng góp, chẳng cái nào giống cái nào.
Trên lửa treo những chiếc vạc lớn, bên trong là gà hầm, vịt hầm đang sôi sùng sục, tỏa khói nghi ngút. Mùi cá nướng, cừu quay ngào ngạt khắp bãi cát, dẫn dụ mấy con chó giữ nhà trong làng cứ quanh quẩn bên mép nồi không rời.
Hải Triều và Lương Dạ bước vào trong đình, dân làng cũng lần lượt tìm chỗ ngồi xuống.
Lều vải không đủ lớn nên họ ngồi san sát, chen chúc nhau, nhưng ai nấy đều hân hoan, chẳng hề để tâm.
Hải Triều đảo mắt nhìn quanh, thấy Sa bà ngồi trong góc, bà cụ mím chặt môi, khóe miệng trễ xuống, cau mày nhìn họ, đôi mắt đục ngầu như mặt biển đang lên sương mù.
Ánh mắt ấy khiến nàng thấy bất an, vô cớ nhớ lại những lời bà nói vào đêm gặp giông bão.
Sao bà lại biết nàng ra khơi sẽ gặp bão? Sao bà biết Tiểu Dạ sẽ trở về?
Tim Hải Triều thắt lại, lẽ nào bà đã sớm nhìn thấu ngày này?
Nàng vô thức quay sang nhìn Lương Dạ, phát hiện hắn đang thẫn thờ nhìn về phía trước, ánh mắt tán loạn, trên trán chẳng biết từ lúc nào lấm tấm mồ hôi mịn.
Hải Triều khẽ chạm vào mu bàn tay hắn, nhỏ giọng hỏi: “Sao vậy? Chàng thấy không khỏe ở đâu à?”
Lương Dạ dường như không nghe thấy nàng nói gì, thần sắc càng lúc càng thất thần, cơ thể run lên bần bật, thậm chí có thể nghe thấy tiếng răng của hắn va vào nhau cầm cập.
Hải Triều vội vàng nắm chặt cánh tay hắn, lắc mạnh: “Tiểu Dạ!”
Lương Dạ bỗng nhiên ôm chầm nàng vào lòng, hai cánh tay siết chặt như muốn khảm nàng vào cơ thể mình.
Hải Triều bị ép đến đau nhức cả xương cốt, nhưng nàng chẳng dám cử động.
Một lát sau, Lương Dạ mới như bừng tỉnh khỏi cơn mơ mà buông nàng ra, hai tay buông thõng xuống.
“Tiểu Dạ, chàng đừng làm ta sợ…” Hải Triều đưa tay v**t v* gò má hắn, thấy mặt hắn nóng đến đáng sợ.
Lương Dạ nắm lấy cổ tay nàng, ngón tay cái ấn lên mạch đập, dường như đang cảm nhận nhịp tim của nàng.
Ánh mắt hắn đảo quanh mặt nàng, hồi lâu sau mới định thần lại được, đáy mắt như trào dâng điều gì đó u uẩn.
Đúng lúc này, La Tam thẩm thúc giục: “Hải Triều, Tiểu Dạ, đến lúc hành đại lễ rồi.”
Hải Triều dắt tay hắn, ngón tay hắn vẫn còn run rẩy, lòng bàn tay lạnh ngắt hơi ẩm mồ hôi.
Nàng vô thức nắm chặt hơn: “Đi thôi, Tiểu Dạ.”
Nhưng Lương Dạ không động đậy, hắn nhìn trân trân vào mắt nàng: “Hải Triều, đợi đã…”
Hải Triều ngước nhìn hắn, môi run rẩy: “Có chuyện gì thì bái đường xong rồi nói được không?”
Lương Dạ không đáp, đôi chân vẫn như đóng đinh tại chỗ.
Hai người giằng co, những người xung quanh cũng nhận ra điều bất thường, gian lều vốn ồn ào bỗng lặng ngắt như tờ. Ngay cả đám trẻ nhỏ đang chạy nhảy khắp nơi cũng cảm nhận được không khí khác lạ, chúng chớp đôi mắt bối rối, nhìn chằm chằm vào những người lớn bên cạnh.
“Hải Triều.” Lương Dạ lại gọi một tiếng, giọng nói đầy cay đắng, “Ta không thể…”
“Hải Triều.” Lương Dạ lại gọi một tiếng, giọng nói đầy cay đắng, “Ta không thể…”
“Không uống được rượu sao không nói sớm!” A Cốc chẳng biết đã đứng sau lưng hắn từ lúc nào, giáng một chưởng mạnh lên lưng hắn, “Hành đại lễ xong thì mau đi nghỉ ngơi.”
Rồi hắn nói với đám thanh niên: “Tối nay ai cũng không được ép rượu hai đứa nó, lỡ dở việc đại sự của cặp đôi này, xem ta có xử các người không!”
Lương Dạ nhìn đôi mắt đã bắt đầu ngấn nước của Hải Triều, hắn rủ mi mắt, nói với A Cốc: “Tại ta tửu lượng kém mà không tự biết mình.”
Mọi người nghe vậy đều thở phào nhẹ nhõm.
Hải Triều nắm chặt lấy những ngón tay lạnh lẽo của hắn, dường như sợ rằng chỉ cần buông tay là hắn sẽ biến mất.
May mà hắn không nói thêm gì nữa, cùng nàng sánh bước đi tới trước mặt trưởng lão chủ trì hôn lễ.
Trưởng lão mỉm cười nhìn hai người, không ngớt lời khen ngợi: “Thật đúng là một đôi trời sinh. Từ nay về sau hai đứa phải bảo ban nhau mà sống cho tốt, không được cãi vã hờn dỗi nhau đâu đấy.”
Hải Triều khẽ đáp một tiếng “Vâng”, rồi quay sang nhìn Lương Dạ. Dù là dưới ánh lửa bập bùng ấm áp, vẫn có thể thấy rõ gương mặt hắn đã cắt không còn giọt máu.
Lương Dạ nói khẽ: “Kính tuân giáo huấn.”
Sau khi tạ ơn trưởng lão, hai người đứng đối diện nhau, cúi người hành lễ giao bái.
Nhất bái, nhị bái, tam bái.
“Lễ thành!” Lão nhân dõng dạc tuyên bố.
A Cốc bước tới, nhìn Lương Dạ đầy cảnh giác: “Nếu say rồi thì để Hải Triều dìu vào phòng nghỉ ngơi, ở đây cứ để ta lo liệu.”
Ánh mắt Lương Dạ vẫn thanh tỉnh, không thấy chút ý say nào, chỉ có sắc mặt là trắng bệch đến đáng sợ.
Hắn lắc đầu: “Không sao.”
Nói đoạn, hắn đi tới chào hỏi quan khách, vỗ mở lớp bùn niêm phong hũ rượu, lần lượt rót rượu cho từng người.
Mọi người thấy tân lang đã khôi phục như thường, hòn đá trong lòng mới rơi xuống, bắt đầu chen chúc ngồi vào bàn tiệc.
Từng mâm gà vịt, cá thịt, hoa quả và rau củ tươi ngon được bưng lên. Những tiếng cười nói hoan hỉ trong phút chốc hòa cùng hương rượu thịt lan tỏa khắp không gian.
Qua vài tuần rượu, dân làng đã no say, men rượu lâng lâng, họ đứng dậy vừa ca vừa múa.
Lũ trẻ con lại càng không thể ngồi yên, chúng kéo nhau thành từng đàn chạy ra ngoài lều vải dầu, rượt đuổi quanh đống lửa trại.
Hải Triều và Lương Dạ bận rộn xong mới ngồi vào bàn. Mâm thức ăn trước mặt hầu như chưa hề đụng tới, bát canh thịt đã nguội ngắt, đóng một lớp váng mỡ.
Hai đứa nhỏ dắt tay nhau đi đến bên cạnh họ, bé trai khoảng sáu bảy tuổi, bé gái mới ba bốn tuổi. Hải Triều nhận ra một đứa là Tiểu Tùng, con trai cả của đại tỷ nhà họ La, đứa kia là Mạt Mạt, con gái nhà họ Lý hàng xóm.
Bé gái ngậm ngón tay, đôi mắt đen láy nhìn chằm chằm vào đĩa hoa quả và hạt khô trước mặt họ.
“Muốn ăn không?” Hải Triều mỉm cười bưng đĩa quả lên, đưa tới trước mặt chúng, “Tự bốc lấy đi.”
Bé gái bốc một nắm, trước tiên nhét vào tay bé trai: “Tiểu Tùng ăn đi.”
Bé trai đỏ mặt, đẩy tay cô bé ra: “Muội ăn đi, huynh không thích ăn đồ ngọt.”
“Có đủ cả mà, cứ lấy thêm đi, không sao đâu.” Hải Triều nói.
Hai đứa nhỏ bốc thêm một ít, bé gái vừa gặm mứt hoa quả vừa nhỏ giọng hỏi: “Tỷ tỷ Hải Triều, em bé của tỷ đâu rồi?”
Hải Triều sững người. Nàng từng có lúc ngây ngô mơ mộng về chuyện sinh con đẻ cái với Lương Dạ, nhưng vào lúc này, làm sao nàng còn nghĩ tới những chuyện đó được nữa.
“Tỷ không có em bé.”
Bé gái rõ ràng không tin, cứ lăng xăng nhìn quanh người nàng như thể đang tìm xem nàng giấu em bé ở chỗ nào: “A nương bảo làm tân nương tử là có em bé mà.”
Hải Triều bật cười, liếc nhìn Lương Dạ, thấy hắn vẫn rủ rèm mi, lặng thinh không nói.
Nụ cười trên môi nàng cũng vụt tắt.
Nàng chia phần hoa quả còn lại làm đôi nhét vào túi áo của chúng, xoa xoa đầu hai đứa nhỏ: “Đi chơi đi.”
Hai đứa trẻ dắt tay nhau đi khỏi.
Hải Triều nhìn theo bóng lưng chúng, thoáng nghe thấy bé gái nói: “Hải Triều tỷ tỷ làm tân nương xinh thật đấy, muội cũng muốn làm tân nương.”
Bé trai bảo: “Trẻ con không làm tân nương được.”
“Muội cứ làm đấy, cứ làm đấy!”
“Được rồi, thế muội làm đi…”
“Huynh làm tân lang nhé.”
“Thế thì không được.”
“Tại sao không được?”
“Huynh không muốn thành thân, huynh muốn giống như A Cốc ca ca, ngồi thuyền lớn đi chơi khắp nơi cơ.”
“Huynh không làm, muội không chơi với huynh nữa! Có làm không?”
“Thôi được rồi…”
Hải Triều chống cằm nhìn chúng đi xa dần: “Thật tốt quá.”
“Ừ.” Lương Dạ khẽ đáp, đẩy đĩa bánh kê rưới mật về phía nàng, “Ăn một chút đi cho đỡ cồn ruột, cả tối nay nàng chưa ăn gì cả.”
Hải Triều chẳng có tâm trạng ăn uống, nhưng vẫn cầm đũa gắp một miếng, vị ngọt thanh chẳng thấm vào đâu.
Hai người không nói thêm gì nữa, chỉ lặng lẽ nhìn xung quanh náo nhiệt.
Chẳng mấy chốc, vầng trăng đã treo giữa đỉnh đầu, đã đến giờ lên thuyền hoa.
Dân làng đồng loạt đứng dậy, tay cầm đuốc lá thông, tay xách đèn lồng tiễn họ ra tận bờ biển.
A Cốc cởi sợi dây thừng buộc thuyền, trao cây sào trúc vào tay Lương Dạ, rồi lại liếc nhìn thủy triều: “Chèo thuyền cẩn thận, đi sớm về sớm.”
Mặt biển bình lặng, làn nước dưới ánh trăng đặc quánh như màn đêm.
Tiếng sào trúc từng nhịp từng nhịp rẽ nước, con thuyền nhỏ chậm rãi hướng về phía giữa biển khơi.
Hải Triều ngồi trên thuyền, nhìn bờ biển dần lùi xa, những bóng người vẫy tay tiễn biệt cứ nhỏ dần, nhỏ dần, cho đến khi chỉ còn lại đường bờ biển tối sẫm và những đốm lửa lập lòe như ánh sao.
Về sau, ngay cả ánh lửa cũng chẳng còn thấy rõ, bốn bề chỉ còn lại vùng biển rộng mênh mông vô tận, nước đen đặc như mực tàu, đất trời dường như chỉ còn lại hai người họ.
Cả hai đều không nói gì, chỉ có tiếng sào trúc khua nước đơn điệu vang lên đều đặn.
Cứ thế trôi qua rất lâu, lẽ ra đã phải tới bãi đá Ba Bà từ lâu, vậy mà trên mặt biển xung quanh căn bản chẳng thấy bóng dáng rạn đá nào.
Lương Dạ rút sào trúc lên khỏi mặt nước, đặt ngang trên thuyền rồi ngồi xuống đối diện Hải Triều, hắn vươn tay, bao bọc bàn tay nàng trong lòng bàn tay mình: “Hải Triều…”
Hải Triều nhìn ra mặt nước mênh mông, chẳng biết từ lúc nào sương đêm đã nổi lên, vầng trăng cũng như phủ thêm lớp voan mỏng, mông lung mờ ảo như trong cõi mộng.
“Hơi lạnh rồi, đáng lẽ nên mang theo chăn lên thuyền mới phải.” Nàng giả vờ thoải mái nói.
“Hải Triều…” Hắn lại gọi thêm một tiếng.
Hải Triều vớ lấy cây sào, “vút” một cái đứng bật dậy, con thuyền vì động tác của nàng mà chao đảo dữ dội.
“Mấy năm nay chàng chẳng chèo thuyền, thảo nào lâu thế vẫn chưa tới, để đó ta làm cho xem.”
Nàng dùng sức khua sào, mũi thuyền rẽ nước lao về phía trước, thế nhưng sương mù phía trước càng lúc càng dày, dần dần bao vây lấy họ. Đừng nói là rạn đá phía xa, ngay cả gương mặt ở sát trong gang tấc cũng bị làn sương làm cho nhòe đi, nhìn không rõ thực hư.
“Hải Triều.” Lương Dạ mím chặt môi, đứng dậy nắm lấy tay nàng, “Nàng nghe ta nói.”
Hải Triều gạt tay hắn ra: “Có chuyện gì đợi chúng ta đến nơi rồi nói! Không nhanh lên là trời sáng mất!”
“Sẽ không đến được đâu.” Lương Dạ khẽ thốt ra, mỗi chữ tựa như bị đào ra từ trong tim, mang theo những gai nhọn dính đầy máu thịt.
Nàng dường như có thể ngửi thấy mùi máu tanh nồng trong những chữ ấy, hắn lại một lần nữa tàn nhẫn đâm sâu vào tim nàng.
“Sao lại không đến được, ta bảo được là được!” Hải Triều dốc hết sức bình sinh chèo thêm vài nhịp, nhưng vì dùng sức không đúng, con thuyền nhỏ cứ xoay tròn trên mặt nước.
Hải Triều như đánh cược mà chèo thêm mấy cái nữa, bỗng nhiên nghiến răng, vứt mạnh cây sào đi.
Nàng giống như bị ai đó rút hết sạch sức lực, đôi chân mềm nhũn, đứng không vững nữa. Nàng quay lưng về phía Lương Dạ rồi ngồi thụp xuống, ôm lấy đầu gối, vùi mặt vào đó mà nức nở không thành tiếng.
Lương Dạ quỳ xuống sau lưng nàng, ôm chặt lấy nàng từ phía sau, mùi hương quen thuộc quanh quẩn bên tai, sống động và ấm áp biết bao. Lồng ngực hắn áp sát vào lưng nàng, nàng gần như có thể cảm nhận được nhịp tim của hắn.
“Nàng biết rồi phải không?” Lương Dạ giữ nguyên tư thế, ôm nàng thật chặt.
Hải Triều càng vùi đầu thấp hơn: “Ta không biết, cũng không muốn biết, chàng đừng nói gì cả.”
“Hải Triều, Hải Triều…” Lương Dạ gấp gáp gọi hai tiếng, giọng thấp đến mức khiến người ta hoài nghi đó chỉ là tiếng gió biển đang nỉ non than khóc, “Nàng vốn đã biết từ lâu rồi, thế nên mới đổi ý không đi Trường An, vội vàng đòi về nhà, nàng sợ ta biết mình đã…”
Hải Triều xoay người lại, đưa tay chặn miệng hắn, không để hắn nói ra chữ ấy.
“Ta không biết, cái gì cũng không biết!”
Trong lòng nàng như đang nhốt một con dã thú cuồng nộ, húc trái tông phải mà chẳng tìm thấy lối ra, đâm vào tim gan nàng đến máu thịt be bét. Nàng chỉ còn biết cắn vào môi hắn để phát tiết cơn giận dữ, vị máu tanh nồng quyện cùng nước mắt mặn chát tràn vào khoang miệng.
“Nhìn xem.” Nàng buông hắn ra, ngón tay quệt đi vết máu trên miệng vết thương của hắn, rồi nhấc chiếc đèn dầu bên cạnh lên soi cho hắn thấy, “Đây là máu của chàng, chàng vẫn còn chảy máu mà.”
Nàng lại chộp lấy tay hắn, dùng lực ấn mạnh lên lồng ngực: “Tim chàng vẫn đang đập, chàng nhìn đi! Rõ ràng là đang đập mà!”
Lương Dạ nắm ngược lấy cổ tay nàng, nhìn sâu vào đôi mắt ấy: “Hải Triều, ta nhớ ra cả rồi, chuyện ở Trường An… Ta đã chết ở Trường An rồi.”
Hải Triều cắn chặt môi, cố sức kìm lại những giọt lệ chực trào, dường như nàng tin rằng chỉ cần nước mắt không rơi, thì những lời hắn nói đều không phải là thật, tất cả chỉ là một cơn ác mộng mà thôi.
“Thế thì đã sao? Chẳng phải chúng ta đều như nhau ư?” Hải Triều đáp, “Ta gặp phải phong ba, Trình Ngọc Thư gặp phải bão cát, Lục tỷ tỷ cũng thế… Chúng ta đều là vì gặp nạn mới tới Tây Châu, ông trời đã cho chúng ta cơ hội sống lại lần nữa, chúng ta nhất định sẽ cùng nhau sống sót trở ra.”
“Ta không giống các nàng.” Lương Dạ giơ tay nhẹ nhàng m*n tr*n gò má nàng, “Hồn đèn chỉ có bốn ngọn.”
“Thế thì đã sao chứ!” Hải Triều giận dữ gào lên, nhưng nước mắt không tự chủ được vẫn cứ trào ra.
Lương Dạ nhìn vẻ mặt của nàng là biết không cần nói thêm nữa.
Lâm Hạc Niên, kẻ lấy tên giả là “Giang Thận” vẫn còn sống, nhưng hồn đèn chỉ có bốn ngọn, bởi vì trong bốn người bọn họ, đã có một người chết từ lâu rồi. Đáp án đơn giản đến mức nực cười.
“Không sao đâu…” Hải Triều ôm chặt lấy hắn, áp tai vào lồng ngực cảm nhận hơi ấm và nhịp đập mạnh mẽ của trái tim ấy.
Nàng vẫn nhớ lúc mới gặp, tay hắn lạnh lẽo, sắc mặt trắng bệch dọa người, nhưng giờ chẳng phải đã tốt hơn nhiều rồi sao? Ở Tây Châu chuyện gì cũng có thể xảy ra, có thần tiên, có yêu ma, dù người chết có sống lại thì có gì lạ lẫm đâu? Phải rồi, Bích Lưu Ly chẳng phải cũng vào Tây Châu sao? Hắn ta cũng đâu có hồn đèn? Phần sau của cuộn thư lụa đã bị Giang Thận hủy hoại, ai mà biết được quy tắc hoàn chỉnh là gì cơ chứ?
Trong lòng nàng bỗng nhen nhóm hy vọng vô bờ bến, nàng ngước mặt nhìn hắn: “Nhất định có cách mà, còn một bí cảnh cuối cùng nữa, dù ta có liều mạng cũng phải đưa chàng cùng trở về nhân gian!”
Nhiều năm trước nàng có thể tìm thấy hắn bên bờ biển, đưa hắn về, thì lần này nhất định cũng có thể đưa hắn trở lại trần thế.
Lương Dạ cụp mi, nhìn nàng thật lâu, như muốn khắc sâu dung mạo nàng vào tận tâm khảm.
Hải Triều bắt đầu bất an: “Chàng không tin ta?”
Lương Dạ hôn lên trán nàng, rồi đến chóp mũi: “Ta mãi mãi tin nàng..”
Thế nhưng, Hải Triều biết, đằng sau đó luôn là một chữ “nhưng”.
Lương Dạ lấy một vật từ trong ngực ra, nắm lấy tay Hải Triều.
Nàng đã biết đó là thứ gì, bàn tay nắm chặt lại không muốn buông, ra sức lắc đầu: “Đừng, ta không muốn…”
Lương Dạ áp bàn tay nàng lên môi, m*n tr*n lòng bàn tay nàng, hôn từng đốt ngón tay một, những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài vào kẽ tay nàng.
“Chàng không được làm thế.” Hải Triều càng nắm chặt tay hơn, móng tay đâm sâu vào lòng bàn tay, “Cầu xin chàng, đừng đối xử với ta như thế…”
“Trời sắp sáng rồi.” Lương Dạ nói, “Nếu còn trì hoãn, Lục nương tử và Trình Ngọc Thư đều sẽ gặp nguy hiểm.”
Hải Triều vẫn nghiến chặt răng, nhưng ngón tay lại vô thức nới lỏng.
Lương Dạ xòe bàn tay nàng ra, đặt một vật nặng trĩu vào lòng bàn tay ấy, rồi khép các ngón tay nàng lại. Hải Triều cảm nhận được những đường vân sóng biển nhấp nhô, không cần nhìn cũng biết đó chính là chiếc túi hương bạc mà nàng đã dùng sức ném xuống biển cách đây không lâu.
Lương Dạ ôm nàng vào lòng, hôn lên tóc nàng: “Đây là món đồ ta dùng khoản bổng lộc đầu tiên, cộng với tiền chép sách, làm thơ tích cóp được để thuê thợ làm, hoa văn trên đó cũng là ta tự học cách chạm khắc, vốn dĩ vẫn luôn muốn đích thân trao cho nàng.”
Hải Triều siết chặt tay, chiếc túi bạc hơi nóng lên, dần trở nên nhẵn mịn.
Ánh sáng rực rỡ tràn ra từ kẽ tay, tựa như nàng đang nắm giữ một vầng trăng nhỏ. Thế nhưng, thế giới của nàng lại đang chìm dần vào bóng tối vô tận.
Chẳng còn bí cảnh thứ bảy nào nữa.
Sau mỗi lần kết thúc một bí cảnh, nơi mà họ đến chính là bí cảnh thứ bảy. Họ đã ở đây một ngày, hai ngày rồi ba ngày… hiện tại chân trời đang hửng lên ánh rạng đông của ngày thứ bảy.
Thực ra, họ chưa bao giờ rời khỏi Tây Châu.
Lương Dạ nhìn nàng, đôi mắt đen thẳm không một tia sáng: “Ta chính là con quái vật đang giam cầm nàng.”
“Đây chẳng phải là chấp niệm của chàng sao? Chẳng lẽ chàng không muốn thành thân với ta, cùng ta sống trọn đời trọn kiếp?”
“Chàng hãy để ta ở lại đi!” Hải Triều nghẹn ngào, “Ta không cần biết là thật hay giả, ta chỉ muốn ở bên chàng thôi…”
Lương Dạ lắc đầu.
Chấp niệm của hắn chưa bao giờ là giữ nàng ở lại.
Lúc đầu, hắn chỉ muốn được nhìn nàng thêm một lần, để được đích thân nói với nàng một câu “xin lỗi”. Thế nhưng con người ta luôn tham lam, nhìn một lần rồi lại mong cầu thêm lần nữa, cứ như thế, hắn đã giam cầm nàng lâu đến nhường này.
Lương Dạ vén lọn tóc mai bết lệ của nàng: “Xin lỗi, Hải Triều, xin lỗi nàng.”
“Ta không muốn nghe những lời này! Nhất định phải có cách, chúng ta cùng nghĩ cách có được không? Chàng thông minh như vậy, chàng nghĩ lại đi…”
Lương Dạ không nỡ nhìn vào mắt nàng, chỉ biết ôm ghì nàng vào lòng, từng hồi từng hồi gọi tên nàng.
Sóng biển vỗ nhẹ vào đuôi thuyền, nhẹ nhàng như những tiếng thở dài, liên tục đưa con thuyền nhỏ về phía trước. Trong màn sương dày đặc, bờ biển cùng những hàng mắm trắng quen thuộc dần hiện ra mờ ảo.
Lương Dạ buông nàng ra, khẽ nói: “Hải Triều, đến lúc phải về nhà rồi.”
Dứt lời, hắn lùi lại phía sau.
Hải Triều chỉ vừa thoáng ngẩn ngơ, trên thuyền đã chỉ còn lại mình nàng.
Con thuyền nhỏ trôi dạt về phía bờ, hắn lẳng lặng đứng giữa làn nước nhìn nàng. Lớp sương mù xám xịt bao phủ quanh thân hắn, ranh giới giữa âm và dương chia cắt thế giới của hai người một cách rạch ròi.
Hải Triều nhìn vùng biển quen thuộc này, vùng biển đã nuôi nấng nàng, cũng chính nó đã nuốt chửng cha mẹ nàng, và giờ đây ngay cả Tiểu Dạ cũng bị nó giữ lại.
Nàng còn có nhà sao?
Nàng rốt cuộc đã gieo nghiệt gì? Tại sao ông trời lại đối xử với nàng như thế?
“Là ai đã hại chàng?” Sự thù hận, phẫn uất và bất bình trong nàng cần một nơi để trút bỏ.
“Không ai hại ta cả, chỉ là một tai nạn thôi.” Lương Dạ đáp.
“Không thể nào! Chàng gửi thư từ hôn cho ta là vì biết có người muốn hại chàng, chàng sợ liên lụy đến ta.” Hải Triều gào lên, “Nói cho ta biết, rốt cuộc là kẻ nào đã hại chàng!”
Nàng vô thức nắm chặt lấy chuôi đao, dường như muốn ngay lập tức băm vằn những kẻ đó thành muôn mảnh.
Thế nhưng Lương Dạ vẫn nhất quyết không nói gì: “Hãy quên những chuyện này đi, sống thật tốt, hãy theo thuyền buôn đi Phù Nam, đi Ba Tư…”
Thuyền mỗi lúc một xa, chỉ có hắn vẫn đứng yên tại chỗ.
Hải Triều chợt nghiến răng, đột ngột nhảy xuống thuyền, lao mình vào biển cả, dốc sức bơi về phía hắn: “Tiểu Dạ, Tiểu Dạ!”
Thế nhưng mặc cho nàng nỗ lực bơi đến đâu, sóng biển vẫn vô tình đẩy nàng về phía bờ. Một cánh cổng rực lửa đã hiện ra phía sau nàng không xa.
Bóng người trước mắt ngày một nhỏ dần, nhòa đi.
Hải Triều vật lộn giữa làn nước, không ngừng gạt đi nước biển và nước mắt trên mặt, cố nhìn hắn cho thật rõ. Thế nhưng dù nàng có căng mắt ra đến mức nào, cuối cùng vẫn chẳng thể thấy hắn được nữa.
Một đợt sóng cuộn tới, cuốn nàng vào trong cánh cổng lửa.
Hải Triều rùng mình một cái rồi bừng tỉnh. Nàng muốn mở mắt, nhưng mí mắt lại nặng trĩu như đeo ngàn cân chì, ghì chặt lấy đôi mắt nàng.
“Hải Triều, Hải Triều…”
Bên tai thấp thoáng tiếng ai đó đang khẽ gọi tên, một giọng nữ vừa quen thuộc vừa dịu dàng, nàng mơ màng hồi tưởng một hồi rồi chợt nhận ra đó là giọng của Lục Uyển Anh.
Nàng mừng rỡ khôn xiết, cố sức mở mắt, một bóng người gầy nhỏ hiện ra trước mặt, tuy nhìn không rõ mặt nhưng nàng nhận ra được, quả nhiên là Lục tỷ tỷ!
Nếu đã gặp được Lục tỷ tỷ, vậy thì đây chính là bí cảnh thứ bảy rồi! Đây mới là bí cảnh thứ bảy, nàng nhất định có thể đưa Tiểu Dạ ra ngoài.
Hải Triều định cất tiếng nói, nhưng vừa há miệng đã thấy cổ họng khô khốc như thiêu như đốt, chẳng thể phát ra âm thanh nào.
“Đừng cử động, hiện giờ muội rất yếu, cần phải tĩnh dưỡng cho tốt.”
Lục Uyển Anh nhẹ nhàng đè vai nàng lại, khẽ nói. Tỷ ấy đứng dậy bưng một chiếc bát nhỏ, dùng thìa múc một chút nước ấm thấm ướt môi nàng. Hải Triều nuốt từng chút một, cảm giác khô cháy nơi cổ họng mới dần dịu đi.
“Lục tỷ tỷ.” Nàng túm lấy tay áo tỷ ấy, “Tiểu Dạ đâu?”
Lục Uyển Anh đặt bát xuống, đưa tay bịt miệng, quay mặt đi chỗ khác. Hải Triều nhìn thấy đôi vai tỷ ấy run bần bật, trong lòng bỗng dâng lên một dự cảm chẳng lành.
Nhưng nàng vội vàng đè nén nó xuống, nhìn qua màn che bằng lụa trắng và những cột giường chạm trổ hoa văn, đó đều là những thứ nàng chưa từng thấy bao giờ, đây không phải bí cảnh thì còn có thể là nơi nào được nữa?
“Chúng ta đang ở trong bí cảnh thứ bảy đúng không?” Nàng lại kéo kéo tay áo Lục Uyển Anh.
Lục Uyển Anh khẽ lắc đầu: “Hải Triều, đây không phải bí cảnh, đây là phủ Thứ sử ở Liêm Châu. Muội gặp nạn trên biển, bị sóng đánh dạt vào bờ rồi cứ thế hôn mê không tỉnh. Đỗ thứ sử hay tin đã đón muội về đây… Muội đã ngủ hơn một tháng rồi…”
“Tỷ gạt người.” Hải Triều nói, “Tỷ không phải Lục tỷ tỷ, là giả mạo đúng không? Đây nhất định là bí cảnh, muội phải đi tìm Tiểu Dạ…”
Nàng vừa nói vừa định ngồi dậy, nhưng động đậy mới phát hiện toàn thân không chút sức lực, cánh tay mềm oặt như làm từ bột mì, đến việc chống tay để ngồi lên cũng không làm nổi.
Lục Uyển Anh cúi xuống ôm lấy nàng, nghẹn ngào nói: “Hải Triều, ta thực sự không lừa muội…”
“Muội không tin, nếu không phải bí cảnh, sao tỷ lại ở đây?”
Lục Uyển Anh khóc không thành tiếng: “Sau khi từ Tây Châu trở về, ta đã trốn khỏi nhà đến nhà ngoại ở Kim Lăng, sau đó tới đây tìm muội, mới đến được vài ngày thôi.”
“Không thể nào.” Hải Triều nhìn trân trân l*n đ*nh màn qua bờ vai tỷ ấy, lẩm bẩm lặp lại, “Muội không tin, không thể nào…”
“Hải Triều.” Lục Uyển Anh khóc nấc lên, “Muội đau lòng thì cứ khóc ra đi…”
Hải Triều im lặng, rất lâu, rất lâu sau, nàng mới khẽ hỏi: “Là ngày nào?”
Lục Uyển Anh ngẩn ra.
“Tiểu Dạ gặp chuyện vào ngày nào?”
Lục Uyển Anh nhỏ giọng đáp: “Ngày mười sáu tháng ba.”
Khóe miệng Hải Triều khẽ giật, nước mắt từ khóe mắt tuôn rơi.
Ngày hai mươi hai tháng ba, là ngày họ tiến vào Tây Châu, cũng là ngày nàng đốt hết thư từ, quần áo và đồ đạc của hắn.
Hóa ra, ngày hôm ấy chính là lễ Đầu Thất của Lương Dạ.
Tinh Nguyệt: Đã đọc qua 1 lần rồi mà khi chuyển ngữ tim vẫn nghẹn lại.
Tác giả, nếu chị mà không cho HE tôi thề sống thề chết với chị, hu hu Lương Dạ, Hải Triều của tôi!!!
Chưa có bình luận cho chương này.