Công ty không quen với việc nghệ sĩ mới, đặc biệt là nghệ sĩ chưa có hợp đồng chính thức nào trước đó, yêu cầu đàm phán lại một điều khoản cốt lõi trong hợp đồng tiêu chuẩn trước khi ký.
Giám đốc phát triển nghệ sĩ giải thích qua điện thoại rằng Điều khoản 7.3 là điều khoản tiêu chuẩn trong tất cả hợp đồng của công ty, tồn tại vì lý do pháp lý và kiểm soát chất lượng thương hiệu, chưa có trường hợp ngoại lệ nào trong bảy năm hoạt động.
Minh Triết nghe hết rồi trả lời bình thản: “Tôi hiểu đó là tiêu chuẩn. Nhưng số liệu của tôi cũng không phải tiêu chuẩn nghệ sĩ mới không có hợp đồng. Tôi đề nghị ngồi lại thảo luận cụ thể về điều khoản đó.”
Họ ngồi lại.
Minh Triết đề xuất cụ thể: giữ nguyên độc quyền phân phối trên tất cả nền tảng, cam kết số lượng bài phát hành tối thiểu hàng năm theo lịch thỏa thuận, nhưng quyền phê duyệt nội dung sáng tác chuyển từ công ty sang anh với điều kiện nội dung không vi phạm quy định pháp lý và tiêu chuẩn các nền tảng phát hành chính. [Hệ thống phân tích: Đề xuất này có cơ sở để được chấp nhận nếu đi kèm cam kết số lượng đủ mạnh để bù đắp rủi ro kiểm soát nội dung mà công ty mất đi theo Điều khoản 7.3 gốc.]
Minh Triết thêm vào: cam kết tối thiểu tám bài mỗi năm, thay vì bốn bài tiêu chuẩn trong hợp đồng gốc.
Hai bên thảo luận qua lại thêm hai buổi trong một tuần. Cuối cùng đạt thỏa thuận gần với đề xuất của anh hơn là bản hợp đồng ban đầu, với một số điều chỉnh nhỏ về quy trình thông báo trước khi phát hành. [Hợp đồng ký kết. Quyền sáng tác bảo toàn theo thỏa thuận. Nhiệm vụ ẩn kích hoạt: Duy trì quyền kiểm soát sáng tác và hoàn thành cam kết trong hai năm đầu hợp đồng.]
Minh Triết ký hợp đồng và gấp bản sao lại. Anh không biết nhiệm vụ ẩn đó tồn tại từ lúc nào. Nhưng điều quan trọng hơn là anh giữ được thứ cần giữ không phải vì hệ thống nói vậy mà vì anh hiểu tại sao nó quan trọng trước khi hệ thống nêu ra.
Chưa có bình luận cho chương này.