Lĩnh Vương Tề Huyên lại càng thêm đau xót, trước mặt văn võ bá quan thống khóc không thôi, nước mắt đẫm hai vạt áo — y chính là Phế thái tử từng bị hãm hại năm xưa, từ thuở thiếu niên vỡ lòng đã bái Hứa Phụng làm thầy, được ông tận tâm dạy dỗ mà nên người, thế nên bằng bất cứ giá nào y cũng phải đích thân tới huyện Đan Ngọc tra rõ chân tướng kẻ giết hại ân sư.
Sau đó Triệu thủ phụ phái con trai là Triệu Khác cùng đi, một là để phò tá Lĩnh Vương lo liệu công việc, hai là tới phúng viếng tang lễ, thu xếp ổn thỏa cho thê nhi của Hứa Phụng.
Đô Sát Viện thì do Thôi Tuệ tháp tùng, vừa là để giúp sức phá án, vừa gánh vác trách nhiệm giám sát.
Đoàn người vốn dĩ nên ba người giản tiện lên đường, nào ngờ Triệu Khác chẳng ngại phiền toái, không chỉ mang theo môn khách Lục Chước Quang, mà còn dẫn thêm hai nàng mỹ thiếp, hơn mười tên thị vệ, thanh thế chẳng giống đi phá án, ngược lại tựa như du sơn ngoạn thủy, ra khỏi kinh thành rồi lại càng đường hoàng thưởng ngoạn phong cảnh.
Lĩnh Vương Tề Huyên tính tình hòa nhã, lúc này ước chừng vẫn đang chìm trong nỗi đau mất thầy nên kiệm lời ít nói. Vì thế dẫu Thôi Tuệ có bất mãn đến đâu cũng chỉ đành nén ở trong lòng, không tiện nói thẳng.
Lục Chước Quang tuy trên mặt luôn mang nụ cười ôn hòa hữu lễ, nhưng suốt dọc đường đều khá yên lặng, chỉ mải mê đọc sách, hiếm khi chủ động mở lời bắt chuyện phiếm với ai. Chẳng biết hắn trói gà không chặt thật hay là đôi tay quá đỗi quý giá, ngoài giấy bút ra chẳng cầm nắm thứ gì, sai bảo thị vệ còn siêng năng hơn cả Triệu Khác, hệt như vị thiếu gia thứ hai dưới một người trên vạn người của Triệu phủ.
Xe ngựa chỉ nghỉ ngơi ở dịch trạm, đi sớm về khuya ròng rã hai ngày đường, lúc tới huyện Đan Ngọc vừa đúng giờ Dậu, cổng thành có binh lính canh gác tầng trong tầng ngoài, ra vào đều khám xét nghiêm ngặt, chặn cả đoàn người ngoài thành, làm chậm trễ mất một khắc, mãi đến giờ Tuất mới vào được trong thành.
Huyện thừa đội gió lạnh vội vã chạy tới nghênh đón, miệng liên tục tạ tội, thưa rằng phương nam thiên tai dồn dập, tuyết rơi nhiều ngày, thương vong vô số, không ít người chạy nạn qua đây, cổng thành bố trí nhiều lớp phòng thủ là để ngăn ngừa lưu dân tràn vào thành gây loạn, vả lại tri huyện vừa bị sát hại, bởi thế dạo gần đây khắp thành đều giới nghiêm.
Phùng Tông ngoài bốn mươi, làm việc vô cùng nhanh nhẹn, trước sai nha dịch chuyển hành lý của mấy người tới chỗ ở đã thu xếp, sau đó mời bọn họ vào căn phòng ấm áp đang đốt lò sưởi, dâng trà nóng bốc khói nghi ngút cho mọi người xua tan giá rét, bận rộn tới mức mồ hôi nhễ nhại trán, chẳng mấy chốc đã sắp xếp đâu ra đấy, tiếp đó liền bẩm báo chi tiết vụ án Hứa Phụng ngộ hại.
Nào ngờ kẻ làm việc mau lẹ chu toàn như vậy, sau khi ngồi xuống mở miệng thốt ra câu đầu tiên lại hết sức hoang đường: "Các vị đại nhân, sau khi Hứa đại nhân bị hại, hạ quan đêm ngày trằn trọc mất ngủ, nhiều lần lùng sục điều tra, nay xin to gan nói một lời, vụ án này không phải do sức người làm nên, e rằng chẳng thể tìm ra hung thủ đâu."
Tề Huyên còn chưa phủi hết phong trần bôn ba trên người, nghe lời ấy liền sa sầm nét mặt, nói: "Lời này là ý gì? Thế nào gọi là 'không phải do sức người'? Chẳng lẽ ân sư của bổn vương là do súc sinh làm hại?"
Phùng Tông lộ vẻ sợ hãi, không dám ngẩng đầu nhìn thẳng, song vẫn cắn răng thưa: "Vương gia bớt giận, hạ quan cho rằng, Hứa đại nhân không phải bị người giết hại, mà là bị âm sai dưới địa phủ tới đòi mạng mà chết."
Thủ lĩnh của hơn mười tên thị vệ đi theo Triệu Khác là một thanh niên tên gọi Lý Ngôn Quy.
Vừa đến huyện nha huyện Đan Ngọc, gã liền lập tức cầm yêu bài của Triệu Khác đi rút hồ sơ vụ án Hứa Phụng bị hại.
Vụ án này gác lại ở huyện nha ròng rã ba ngày, dưới sự điều tra ráo riết của huyện thừa, tình hình đại khái đều đã rõ ràng, nha dịch ít nhiều đều nghe phong thanh, bởi thế chẳng cần lật xem hồ sơ, Lý Ngôn Quy chạy đông chạy tây một chuyến, chỉ cần dựng tai lên nghe ngóng là đã nắm được đại khái.
Cái chết của vị Hứa đại nhân này quả thực vô cùng kỳ quặc. Ông mua sắm nhà cửa tại huyện Đan Ngọc, ngày thường không ở trong huyện nha, ngày bị hại vừa vặn là ngày hưu mộc, theo lời hạ nhân trong trạch viện kể lại, sau khi từ bên ngoài về nhà ông liền vào thư phòng, không bước ra ngoài nữa, đến tối lúc dùng bữa hạ nhân gọi cửa không thấy động tĩnh, đẩy cửa ra thì phát hiện cửa sổ và cửa phòng đều bị khóa chặt từ bên trong.
Hạ nhân vội vàng bẩm báo phu nhân, cuối cùng phá cửa xông vào nhìn xem thì Hứa Phụng đã chết từ lâu. Ông gục ngồi trước bàn sách, nơi cổ họng cắm một mũi dao, máu me khắp người đầm đìa.
Ông không chết ở ngoài, mà chết ngay trong thư phòng nhà mình, cửa nẻo đều khóa kín, hơn nữa từ lúc ông bước vào thư phòng không hề có bất kỳ ai ra vào. Tình hình trong phòng cũng có phần quái dị, trong góc đặt một con gà bị chặt đầu, cùng với gạo mì và bạc vụn, tiền đồng rải đầy trên mặt đất.
Nha môn sau khi nhận được tin báo án đã lập tức tới Hứa trạch điều tra, thu thập được vài manh mối, đều ghi chép cặn kẽ trên cuốn hồ sơ.
Đứng mũi chịu sào chính là Hứa phu nhân. Theo lời người hầu, vì Hứa phu nhân nhiều năm không sinh nở, Hứa Phụng liền nạp một tiểu thiếp dung mạo như hoa như ngọc vào cửa từ hai năm trước.
Hai năm qua đôi bên gắn bó keo sơn, ân ái mặn nồng, từng dấy lên mấy phen tranh chấp thê thiếp, mà Hứa Phụng lại trắng trợn thiên vị tiểu thiếp, lần nào cũng nặng lời gắt gỏng với thê tử, mấy hôm trước thậm chí còn ra tay đánh Hứa phu nhân. Nếu Hứa phu nhân vì thế ôm hận mà nảy sinh sát tâm thì cũng hợp lẽ thường.
Nhưng đợi đến khi nha dịch giải người tới thẩm vấn, mới hay ngày Hứa Phụng bị hại, Hứa phu nhân không hề bước nửa bước ra khỏi hậu viện, thậm chí ngay cả việc Hứa Phụng từ ngoài về nhà lúc nào cũng chẳng hề hay biết.
Hứa phu nhân trước khi xuất giá vốn là khuê tú cửa đóng then cài, sau khi thành thân lại càng an phận thủ thường, ít khi qua lại với ai, dẫu có ra ngoài cũng có cả đoàn người hầu đi cùng, càng không có khả năng thuê sát thủ giết người. Nha môn cũng chẳng dám giam giữ vị phu nhân tri huyện vừa mới thủ góa này ở huyện nha, sớm đã thả về Hứa trạch.
Tuy nhiên rất nhanh đã có manh mối mới — nha hoàn thân cận của tiểu thiếp Hứa Phụng lén lút tới báo, nói kẻ giết hại Hứa đại nhân chính là chủ tử của ả.
Ả nói tiểu thiếp hai năm trước khi chưa vào Hứa trạch đã có một nhân tình, về sau dẫu vào phủ vẫn dùng dằng không dứt, hai năm qua lén lút vụng trộm gặp gỡ nhiều lần, mấy hôm trước sơ ý để lộ sơ hở bị Hứa đại nhân phát hiện. Vì gần tới năm hết tết đến, lại thêm đây là mối nhục tày trời, Hứa Phụng không hề làm rùm bén, nhẫn nhịn ém nhẹm đi, chỉ bảo qua năm mới sẽ đánh chết cả tiểu thiếp lẫn gian phu.
Tiểu thiếp kia kinh hồn bạt vía, đêm đêm mất ngủ, cuối cùng quyết định ra tay trước để chiếm tiên cơ, trước hôm Hứa Phụng bị hại hai ngày, ả viết một bức thư sai nha hoàn đem cho gian phu, mà nội dung trong thư chính là mưu đồ hại chết Hứa Phụng.
Nghe qua thì có vẻ xuôi tai, nhưng bảo nha hoàn kia đưa ra chứng cớ để chỉ điểm gian phu thì thư chẳng có mà người cũng không, lời nói miệng không bằng chứng, nha môn đâu thể bắt giữ một nữ tử mảnh mai yếu đuối tới tra tấn khảo đả.
Cuối cùng nha môn chỉ đành theo nơi ở mà nha hoàn chỉ điểm tới bắt người, song lại vồ hụt, nha môn chạy tới mấy nơi gã thường lui tới, người nọ cứ như bốc hơi mất tăm, cho đến tận hôm nay vẫn bặt vô âm tín.
Sau khi rà soát trong Hứa trạch không có kết quả, nha môn đành tạm thời chuyển hướng điều tra ra ngoài, tức thì dính líu tới một vụ án từ hai tháng trước.
Lại nói huyện Đan Ngọc tựa lưng vào núi, vì là nơi nhỏ bé nên chưa từng có quân đồn trú. Những năm trước biên cảnh Đại Tề chiến sự hỗn loạn tơi bời, trong cõi vốn lơ là quản lý, thêm vào đó quan phụ mẫu huyện Đan Ngọc thời bấy giờ tham ô hủ bại, cấu kết thông đồng một giuộc với sơn phỉ, chuyện sơn phỉ cướp của giết người trở thành cơm bữa, huyện nha xưa nay mắt nhắm mắt mở, cứ thế quan phỉ bao che lẫn nhau khiến lũ ác đồ ngày càng ngang ngược lộng hành, qua lại mật thiết với phú thương trong huyện, cùng trở thành thế lực hào cường.
Từ ngày Hứa Phụng nhậm chức, dùng thủ đoạn lôi đình lần lượt dẹp yên những thế lực lộng hành bá đạo trong huyện, bấy giờ mới khiến sơn phỉ phải lui về ngọn núi, dần dà không dám ra ngoài gây loạn nữa.
Hai tháng trước, có tên du côn quanh năm suốt tháng chẳng lo làm ăn đàng hoàng, chỉ biết trêu mèo chọc chó lại để mắt tới một cô nương nhà lành, nằng nặc đòi cướp về nhà, cô nương kia đâm đầu vào cột chết tươi ngay tại chỗ, náo ra mạng người.
Hứa Phụng nhận được tố giác liền lập tức bắt giam tên du côn, thẩm vấn qua loa rồi định tội, muốn xử tội hắn bằng hình phạt hổ đầu trảm giữa thanh thiên bạch nhật trước bàn dân thiên hạ.
Cha đẻ của tên du côn này là Vương địa chủ tiền của muôn vàn, biết con trai cưng của mình sắp phải nếm mùi hổ đầu trảm, liền đem bạc tiền châu báu trong nhà như nước chảy tuồn vào Hứa trạch, khẩn cầu Hứa Phụng đừng cho con trai lão nếm "bữa tiệc thịnh soạn" nhường ấy.
Hứa Phụng nhận bạc, tỏ ý ta làm việc ông cứ yên tâm, quay đầu liền đổi lưỡi đao hành hình thành đao giả, đồng thời tuyên bố rằng nếu cổ hắn chém không đứt thì miễn tội cho hắn, thả về nhà.
Vương địa chủ ngỡ chắc mười mươi, chuẩn bị sẵn tiệc rượu đợi đón con trai về. Nào ngờ ngày hành hình, đao thì là đao giả, nhưng cổ lại đứt lìa, thủ cấp tên du côn lăn lông lốc mấy vòng dưới mắt mọi người, đôi mắt sợ hãi cùng không cam lòng vẫn trừng trừng nhìn người cha già, như thể đang chất vấn: Chẳng phải tối qua còn truyền lời bảo con yên tâm sao? Cớ sao giờ lâm trận đổi ý, biến thành "thả đầu" rơi xuống đất thế này?
Vương địa chủ vừa đau buồn vừa căm hận, buông lời thề nhất định phải bắt Hứa Phụng trả giá đắt. Về sau mới biết Vương địa chủ thuở trước qua lại rất thân với đại đương gia của đám sơn phỉ, nghe đồn còn kết nghĩa kim lan, làm huynh đệ khác họ, mấy hôm trước từng có người trông thấy lão đi về phía ngọn núi nơi sơn phỉ chiếm cứ, hành tung lén lút, nghi ngờ câu kết sơn phỉ mưu hại Hứa Phụng.
Người thì bắt về rồi, nhưng chưa thẩm vấn. Song người trong nha môn đều trong lòng đều rõ như ban ngày, nghĩ bụng cũng chẳng tra hỏi ra được manh mối gì.
Dù sao chứng cứ cũng không có, lời khai lại toàn là "nghe nói", huyện nha chẳng phải thảo khấu nơi rừng sâu núi thẳm, đâu thể dựa vào hai chữ "nghe nói" vô căn cứ này mà tùy tiện định tội người ta.
Mà điều ghi chép ở dòng cuối cùng của cuốn hồ sơ, được phê bằng mực đỏ, lại là một manh mối đặc biệt, cũng là nguồn cơn cho câu nói hoang đường "âm sai tác mệnh" của Phùng Tông.
Hứa Phụng là kẻ chẳng kính quỷ thần, mấy năm trước còn vì chuyện không con nối dõi mà vào chùa lớn tiếng thóa mạ Bồ Tát, sai người đập nát ngôi chùa, các hoạt động tế lễ ngày hội thường niên do huyện nha chủ trì cũng bị ông bãi bỏ.
Hơn nữa ông chưa từng kiêng kỵ điềm gở, trong lời ăn tiếng nói chẳng kiêng dè sống chết, từng nhiều lần rêu rao rằng nếu thần minh thực sự có thể chưởng quản sinh tử của phàm nhân, thưởng thiện phạt ác, thì cớ sao cõi đời vẫn còn lắm kẻ ác gối cao ngủ kỹ, nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật? Cớ sao không hiển linh bắt lấy kẻ đại bất kính như ông?
Có lẽ những lời lẽ như thế nói ra quá nhiều, rốt cuộc chuốc lấy quả báo, đêm Hứa Phụng bỏ mạng, người gõ mõ tuần đêm đi ngang qua phố từng tận mắt trông thấy có hai bóng ma một đen một trắng lảng vảng quanh Hứa trạch, bay lượn từ trên tường cao ra ngoài, thoáng chốc liền hóa thành làn khói nhẹ biến mất không thấy tăm hơi.
Thế nên khắp huyện đều đồn đại là hai vị đại nhân âm sai Hắc Bạch Vô Thường đã tới đòi mạng vị quan phụ mẫu này, áp giải xuống cõi âm tra xét tội đại bất kính của ông, bằng không làm sao giải thích nổi việc Hứa Phụng rõ ràng ở trong thư phòng cửa nẻo then cài không một bóng người ra vào, vậy mà lại bị đâm chết cơ chứ?
Lời đồn đại này ngày một lan rộng, xôn xao huyên náo khắp thành, đã tới mức ai nấy đều tin sái cổ.
Nhưng Phùng Tông chẳng phải kẻ ngu muội, làm quan mấy chục năm, chuyện án mạng bế tắc đổ vấy cho quỷ thần cũng không phải chưa từng có, huống hồ nếu thực sự là âm sai tác mệnh, sao không đại hiển thần thông câu thẳng hồn phách của Hứa Phụng đi, còn cần chi dùng đến đao kiếm sắc bén chốn trần gian mà giết người, chém tới mức máu me văng tung tóe, bừa bãi khắp sàn thế kia?
Lão từ lúc nhận được tin báo án đã tối tăm mặt mũi, biết trời sập xuống rồi, mấy ngày nay chân không chạm đất, gần như chẳng chợp mắt, liều cái mạng già điều tra hung thủ, rốt cuộc chỉ tra ra được bấy nhiêu kết quả, trước mắt ngoài những kẻ tình nghi không hề có chứng cứ cùng tung tích mịt mờ ra, thì chỉ còn lại hai phỏng đoán: "âm sai tác mệnh" hoặc "Hứa đại nhân tự khóa chặt cửa nẻo dùng đoản đao tự vẫn".
Chương trước
Chọn chương Chương tiếp
Chưa có bình luận cho chương này.