Việc nhận con nuôi không chỉ dành cho người vị thành niên mà người trưởng thành cũng được, Bạch Học Tập có bố mẹ đẻ lại đã đến tuổi thành niên, vốn dĩ không đủ điều kiện cho nhận thừa tự, nhưng tình cảnh của bà cụ Bạch rất đặc biệt. Từ hai mươi năm trước văn phòng khu phố đã làm công tác tư tưởng cho bà, chỉ tại bà không bằng lòng, nay chính bà đã nghĩ thông suốt, quả là chuyện vui vẻ đôi bên.
Làm xong thủ tục, hộ khẩu của Bạch Học Tập lập tức được xóa trắng khỏi sổ hộ khẩu nhà họ Bạch, đăng ký chuyển sang sổ hộ khẩu của Bạch Thu Hà. Để dứt điểm hậu họa về sau, trước lúc làm thủ tục, cô còn ký với vợ chồng Bạch Vạn Phú và Thường Cúc Hương một bản “thỏa thuận cấp dưỡng” dưới sự chứng kiến của cả văn phòng khu phố lẫn đồn công an.
Quan hệ nuôi dưỡng trước đây là sự thật, cô cũng nhận, mai này đợi hai người họ tròn sáu mươi tuổi, mỗi tháng cô sẽ trích một phần ba mức sinh hoạt phí tối thiểu toàn thành phố để chu cấp, nếu sau này họ sinh thêm con cái thì tỷ lệ phụng dưỡng sẽ thay đổi theo số lượng con cái. Vợ chồng Bạch Vạn Phú không biết là vì muốn mau chóng hoàn tất thủ tục để tránh đêm dài lắm mộng, hay là quá đỗi tin tưởng vào lòng “hiếu thuận” của đứa con gái thứ hai, căn bản chẳng nghĩ tới ẩn ý sâu xa đằng sau bản thỏa thuận này, chỉ liếc qua loa rồi ký tên ngay tắp lự.
Cầm cuốn sổ hộ khẩu mới toanh trên tay, Bạch Học Tập cảm nhận rõ bà cụ đã trút được gánh nặng trong lòng, bà còn chủ động lấy sổ lương thực và ba đồng tiền ra, bảo cô đến trạm lương thực đầu phố mua ít lương thực, tiện thể mua thêm ít rau xanh.
Còn bà cụ Bạch thì quay người bước vào phòng làm việc của chủ nhiệm văn phòng khu phố…
Bên kia, tại nhà họ Bạch.
Thường Cúc Hương cũng thở phào nhẹ nhõm: “Giấy trắng mực đen đóng dấu đỏ rành rành như thế rồi, sau này bà già đó có muốn lật lọng cũng hết cách.”
Trong lòng Bạch Vạn Phú lại cảm thấy có gì đó sai sai, như có cục tức nghẹn ngang họng, lại giống như vừa nuốt phải ruồi, sắc mặt dĩ nhiên chẳng tươi tỉnh nổi: “Thôi đừng lải nhải nữa, đi nấu cơm đi.”
“Nấu cơm gì chứ, đã bảo hôm nay sang thăm Lệ Bình nhà chị hai rồi mà, chúng ta xách theo giỏ quà nặng tận mười quả trứng gà thế kia, kiểu gì chả phải ăn một bữa cơm bên đấy.”
“Hừ, bà còn mặt mũi nào mà nhắc tới trứng gà? Chẳng phải bà đem biếu hết cho bà cụ ở hậu viện rồi sao, giờ đi đâu moi ra mười quả trứng to như thế nữa?” Nghĩ tới mấy quả trứng to ngần ấy, lại còn những mười quả, ruột gan Bạch Vạn Phú đau như cắt, cuối cùng ông cũng nhận ra mình khó chịu ở chỗ nào, hóa ra là vì mười quả trứng gà kia.
Hôm nay Thường Cúc Hương tan ca đêm không về thẳng nhà mà ở lại trực thay đồng nghiệp bốn tiếng. Mấy nữ công nhân cùng một phân xưởng, nhà ai có việc gấp thì thỉnh thoảng đổi ca cho nhau, chủ nhiệm cũng nhắm một mắt mở một mắt, hơn nữa làm thay ca còn kiếm thêm được một phần lương, bà ta còn ước gì ngày nào cũng được làm thay. Vừa trực thay về đến đầu ngõ đã bị Bạch Học Tập chờ sẵn ở đó kéo tuột đến văn phòng khu phố làm thủ tục, đến giờ vừa mệt vừa buồn ngủ, ai ngờ về đến nhà còn phải nhìn cái bản mặt khó đăm đăm của chồng, tính khí nóng nảy của bà ta lập tức bốc lên.
“Ông ăn nói hàm hồ gì đấy, trứng gà đang khóa kỹ trong tủ đàng hoàng, đem biếu bà già nào? Vả lại đã cho làm con thừa tự rồi thì đến một cái rắm cũng đừng hòng đem cho.”
Bạch Vạn Phú cười khẩy: “Chẳng phải bà nói với con Hai là đem biếu mười quả trứng gà sao, giờ lại giở quẻ không nhận à.”
“Gì cơ, tôi nói bảo nó đem cho trứng lúc nào? Cái tai nào của ông nghe thấy tôi nói câu đấy hả?” Nói tới đây, sắc mặt Thường Cúc Hương chợt biến đổi: “Khoan đã, không phải con ranh kia mò về nhà lấy trứng đấy chứ?”
Bà ta vội vàng mở tung tủ ra, mười quả trứng to được chọn lựa kỹ càng đã không cánh mà bay.
Thường Cúc Hương chỉ thấy máu dồn l*n đ*nh đầu, cả người trời đất đảo lộn: “Ông… ông nói cho rõ ràng xem, rốt cuộc là thế nào!”
Một phút sau, từ gian sương phòng phía tây vang lên một tràng tiếng gào khóc thảm thiết, cửa đóng kín mít nên mọi người cũng chẳng thấy xảy ra chuyện gì, chỉ nghe tiếng Thường Cúc Hương khóc lóc thảm thiết chửi đổng hai tiếng “đồ sói mắt trắng”, rồi bị Bạch Vạn Phú nạt đi, bảo cái gì mà “lấy thì cũng lấy rồi đừng bới bèo ra bọ nữa”, cuối cùng chuyển thành những lời nghiến răng nghiến lợi rủa sả cay độc.
Thi thoảng lại nghe rõ tiếng rủa “con Hai”, hàng xóm láng giềng lập tức lắc đầu, chuyện cũ rích rồi, chẳng buồn nghe tiếp.
Dù sao mười mấy năm qua, ngày nào Thường Cúc Hương không mắng chửi con gái thứ hai nhà họ thì hôm ấy mặt trời mọc đằng tây.
“Con bé Học Tập từ nhỏ đã là bao cát trút giận của hai vợ chồng nhà đó, người ngoài không biết khéo lại tưởng nhặt ở đâu về, làm gì có ai rủa sả con ruột nhà mình như thế.”
“Nghĩ đi nghĩ lại thì con bé Học Tập sang làm cháu thừa tự cũng là chuyện tốt, đỡ phải chịu ấm ức vô cớ.”
Lương thực tinh tuy ngon miệng nhưng Bạch Học Tập không muốn để lại ấn tượng “thích ăn lười làm”, “không biết vun vén cuộc sống” trong mắt bà cụ, bèn mua toàn bộ bằng lương thực thô, rau cũng chọn loại rẻ nhất ở sạp rau mang về, nấu tạm được một nồi cháo loãng bằng lương thực thô và hầm một bát canh bắp cải khoai tây.
Để chiều theo sở thích ăn cay của mình, cô lén vặt vài quả ớt khô màu đỏ treo dưới mái hiên, vùi vào tro bếp nướng khô rồi giã thành bột ớt thơm nồng, pha thành bát nước chấm cay xè, thế là ăn ngon lành miệng hẳn.
Bà cụ vừa ăn món hầm thanh đạm mềm tan trong miệng, vừa nhìn cô hít hà vì cay, gương mặt vẫn thản nhiên: “Định rồi đấy, ngày mai cháu cứ qua ban quản lý khu dân cư trước, sẽ có người dẫn cháu sang văn phòng khu phố trình diện.”
Bạch Học Tập ngớ người một lúc mới kịp phản ứng lại, hóa ra bà đang nói về công việc: “Hì hì, việc này không làm khó bà chứ ạ?”
“Thôi bớt đi, ta phải đem cả cái mặt già này ra đổi đấy.” Cũng may cô chỉ xin chân nhân viên thời vụ, bên ban quản lý khu dân cư và văn phòng khu phố đều vui vẻ đồng ý ngay.
“Đi làm thì đừng có làm mất mặt ta.”“Vâng ạ.” Bạch Học Tập mỉm cười, ân tình này dĩ nhiên cô sẽ ghi nhớ trong lòng, quyết tâm làm tròn bổn phận của một “bảo mẫu” túc trực hai mươi tư trên bảy mười phần chu đáo.
Hôm sau, nhân lúc trời nắng to, cô đỡ bà cụ ra ngồi dưới gốc cây lựu trong sân, mở toang cửa sổ trước sau của căn phòng, lau chùi dọn dẹp từ trong ra ngoài hai lượt, không bỏ sót bất kỳ xó xỉnh nào. Mở toang cửa cũng là để bà cụ tiện bề quan sát, cô tuyệt đối không đụng vào hai cái hòm khóa kỹ quý giá kia của bà.
Bên này vừa giặt xong chăn chiếu đem phơi ra sân, bên kia nồi trong bếp đã sôi sùng sục, Bạch Học Tập vội vớt mấy quả trứng luộc ra thả vào thau nước lạnh ngâm cho nguội bớt, làm thế bóc vỏ sẽ dễ dàng hơn.
Tất nhiên, việc luộc trứng này cô phải làm lén lút sau lưng mọi người, Thường Cúc Hương giờ đang như con bò điên, nếu trông thấy trứng gà chắc chắn sẽ nhảy bổ vào liều mạng với cô mất.
“Ối chà, con bé Học Tập đúng là cô gái chăm chỉ nhất khu viện số 6 của chúng ta, mấy người nhìn xem, mới có nửa ngày mà đã dọn dẹp phòng ốc của bà cụ sạch bong kin kít rồi kìa.” Thím Thường đi buôn chuyện thế nào mà lần mò sang tận hậu viện.
Nói về chuyện Bạch Học Tập được nhận làm con thừa tự thành công, trên đời này người ấm ức thì nhiều vô kể, nhưng người tức tối nhất chắc chắn không ai khác ngoài bà ta.
Bà ta chẳng phải tự dưng đi làm mối cháu trai cho Thường Cúc Hương, mà là gã cháu trai kia từ tháng trước trong một lần tình cờ đã nhắm trúng Bạch Học Tập, hứa hẹn chỉ cần xong việc sẽ hậu tạ bà ta một phong bao tiền mối thật dày, nên bà ta mới xắn tay giúp đỡ.
Nhìn cái điệu bộ của Thường Cúc Hương hôm qua, bà ta cứ ngỡ mối này chắc như đinh đóng cột, trong đầu đã tính sẵn số tiền thưởng sẽ tiêu vào việc gì rồi, đùng một cái chỉ sau một đêm Thường Cúc Hương đã chẳng còn quyền quyết định chuyện hôn sự của con Hai nữa. Sáng sớm thím Thường nghe được tin này đã tức đến xì khói lỗ tai, đến trưa liền hớt hải chạy sang đây “hỏi tội”.
Bà cụ Bạch lập tức lườm sắc lẻm: “Bà tưởng ai cũng lười chảy thây như bà chắc?”
Thím Thường ngượng ngùng sờ mũi, Bạch Học Tập thì bà ta muốn chèn ép thế nào cũng được, chứ bà cụ Bạch thì bà ta chẳng dám đắc tội.
“Theo tôi thấy thì đám con gái ở ngõ Táo Nhi này chỉ có Học Tập là có đầu óc nhất, ngày thường câm như hến, đúng là chó sủa là chó không cắn, chó cắn thì không sủa.” Người lên tiếng là một phụ nữ tầm hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, dáng người cao ráo, sở hữu đôi mắt phượng dài hẹp.
Nhưng nhìn Bạch Học Tập, đặc biệt là Bạch Học Tập của ngày hôm nay, ánh mắt cô ta lại lộ vẻ u ám hiểm độc: “Đừng tưởng sang làm con thừa tự là ghê gớm, đời người còn dài lắm, giờ thấy êm đẹp chứ sau này chưa biết chừng đâu, mắt nhìn phải biết nhìn xa trông rộng một chút.”
Bạch Học Tập thầm nghĩ liên quan quái gì đến cô, miệng cũng chẳng buồn khách khí: “Sao nào, lấy cái gã anh họ Võ Đại Lang nhà cô mới là nhìn xa trông rộng à?”
“Phì…” Chẳng biết ai không nhịn nổi bật cười thành tiếng, những người khác cũng lục tục cười rộ lên, đại tạp viện vốn lắm người nhiều miệng, chuyện thím Thường làm mối chẳng phải bí mật gì.
Xuân Lệ không ngờ cái đứa câm như hến này lại dám vặc lại lời mình, mấu chốt là còn dám mắng anh họ cô ta là “Võ Đại Lang” ngay trước mặt bàn dân thiên hạ: “Cô đừng có ăn nói bậy bạ, anh tôi chỉ… chỉ là…”
“Thôi thôi thôi, biết rồi, anh cô chỉ hơi lùn một tí, hơi già một tí, hơi nghèo một tí thôi chứ gì, cô không chê thì cô đi mà lấy.”
Lần này, tiếng cười xung quanh càng rộ lên giòn giã hơn.
“Cô!”
Xuân Lệ đỏ bừng mặt mũi. Cô ta là con gái của thím Thường, ba năm trước chồng lâm bệnh qua đời nên vẫn luôn ở lì bên nhà mẹ đẻ, mấy năm nay rất muốn tái giá nhưng ngặt nỗi không tìm được đối tượng ưng ý.
Theo lý mà nói, với mối quan hệ rộng rãi và “địa vị” trong giới tình báo ngõ Táo Nhi của thím Thường, việc tìm cho cô ta một tấm chồng nữa chẳng có gì khó khăn, nhưng cái khó là ở chỗ tiêu chuẩn của Xuân Lệ quá cao—
Cô ta không chỉ đòi đàng trai phải trẻ trung khỏe mạnh, mà còn bắt người ta phải có công việc chính thức với mức lương cao, lại còn phải móc ra được khoản tiền sính lễ hậu hĩnh, rồi còn phải có nhiều chị em gái trong nhà để đỡ đần giúp đỡ. Cứ kén cá chọn canh mãi thành ra lỡ dở đến tận bây giờ, sắp sửa bước sang tuổi ba mươi rồi còn đâu.
Vốn dĩ cô ta có dáng người cao ráo, mặt dài mắt phượng, mồm mép tép nhảy, ngoại hình cũng xem như có chút ưu thế, nhưng hai năm nay không biết do tuổi tác tăng lên khiến trao đổi chất chậm lại hay sao mà vóc dáng đẫy đà hẳn ra, chẳng còn nét khí chất sắc sảo như “Vương Hy Phượng” dạo trước nữa. Nghĩ tới đây, Bạch Học Tập chăm chú quan sát cô ta, nhìn một lúc bỗng nhiên sững sờ, trời đất ơi, mình… rốt cuộc mình vừa nhìn thấy cái gì thế này?!
Cô thế mà lại nhìn thấu vùng bụng dưới của Xuân Lệ, thấy rõ cả t* c*ng và phần phụ của cô ta!
Là một bác sĩ siêu âm với nhiều năm kinh nghiệm lâm sàng, số ca t* c*ng và phần phụ mà cô từng thăm khám không đến mười vạn thì cũng phải tám vạn ca, từng vị trí giải phẫu, từng mốc giải phẫu, trạng thái sinh lý bình thường trông ra sao, trạng thái bệnh lý thế nào, các chu kỳ kinh nguyệt và giai đoạn thai kỳ khác nhau có đặc điểm gì, cô nhắm mắt lại cũng có thể chỉ điểm rành rọt.
Nhưng tiền đề là, cô phải có một cái máy siêu âm, cần một đầu dò, chứ đâu phải nhìn bằng mắt thường thế này!
Bạch Học Tập ra sức chớp mắt, mắt không hề bị hoa, cũng chẳng phải ảo giác, t* c*ng và phần phụ vẫn hiện ra sờ sờ ở đó, chỉ là độ sắc nét hơi kém, không bì được với máy siêu âm mà thôi, nhưng cô quá mức am hiểu về giải phẫu sinh lý nên chỉ cần liếc qua là nhận ra ngay điểm bất thường—
t* c*ng ngả trước, kích thước bình thường, hai bên buồng trứng bình thường, nhưng bên trong buồng t* c*ng lại có một vật thể nhỏ hình quả cà tím dài chừng hai centimet!
Cái thứ này, cô quá đỗi quen thuộc!
Cái thứ này, không chỉ riêng cô quen thuộc mà bất kỳ bác sĩ khoa siêu âm nào cũng có thể nhận ra ngay, bởi vì đây chính là cấu trúc túi thai vô cùng điển hình và rõ ràng.
Có túi thai đồng nghĩa với việc mang thai, nhưng Xuân Lệ lại là một góa phụ có chồng đã chết suốt ba năm qua cơ mà!
Bạch Học Tập thấy chắc chắn là mắt mình có vấn đề, nếu ở thời đại của cô thì chuyện này chẳng có gì lạ lùng, nhưng đây lại là thập niên 70 đầy bảo thủ, cô cảm thấy chuyện này quả thực hoang đường đến mức khó tin, thậm chí là kinh thế hãi tục.
Chưa có bình luận cho chương này.