Bà Choi gọi cho Junho vào sáng thứ Bảy sau chiều ở sân thượng. Giọng bà khàn vì ngủ nhiều, và nhẹ hẳn đi.
“Tôi tắt đèn hành lang rồi,” bà nói, không chào. “Đêm hôm qua. Tôi đứng cạnh công tắc một lúc lâu, rồi tắt. Sáng nay dậy tôi không thấy sợ.” Có tiếng muỗng chạm vào bát sứ. “Tôi đang ăn cháo. Cậu biết không, hai mươi năm tôi quên mất cháo gạo có vị thế nào.”
Ngày đầu tiên của mùa xuân, bà Choi đi tàu lên Chuncheon. Bà Misun đón bà ở ga, hai người phụ nữ cùng leo lên sườn đồi có ngôi mộ nhỏ của thầy Baek, và bà Choi đặt xuống đó một bát cơm trắng còn nóng bốc khói. Junho đã trả lại khung ảnh cho bà Misun từ tuần trước, kèm một lời nhắn ngắn. Bà treo nó cạnh quầy thu tiền, giữa bức chân dung ông lão cười móm mém và một chiếc khung sơn mài. Sau này bà Choi kể với anh đúng một chi tiết về buổi hôm ấy: bà Misun đã nói rất lâu, còn bà thì không nói gì, và đó là cuộc trò chuyện đẹp nhất bà từng có trong đời.
Tháng Ba, sau khi Sở Giáo dục lập xong biên bản hiện trường, máy xúc vào ngôi trường Cheongsan. Ông Kwon đứng bên hàng rào tôn và nhìn từng mảng tường đổ. Hôm trước ngày phá tầng ba, ông nhờ ba công nhân tháo chiếc máy phóng ảnh ra khỏi phòng tối, bọc nó bằng chăn cũ, chở thẳng về phòng tư liệu của viện, vào cuối giờ làm việc. Ông không đòi biên nhận. “Đồ sắt vụn,” ông nói với giám đốc công ty, và không ai hỏi thêm.
Cuối tháng Năm, viện mở triển lãm nhỏ “Những nơi sắp biến mất”. Gian giữa trưng bày chiếc máy phóng ảnh với tấm đế gỗ tháo một góc, bên cạnh là bản in tấm bảng trắng và khung hình có bàn tay giơ lên giữa nắng chiều. Giáo sư Lee Jaehwan đọc diễn văn khai mạc, nói đúng hai câu, câu thứ hai là lời xin lỗi cô nghiên cứu viên của ông ngay trước mặt khách. Hyunah gật đầu đúng mực, và chỉ đến khi đứng cạnh Junho cô mới bật cười thành tiếng. Ông Sim đến trong bộ vest sờn cổ, đứng rất lâu trước dải âm bản hai mươi mốt khung. Bà Choi mặc chiếc áo khoác dạ đen, đứng trước tấm ảnh cuối cùng, nơi nêm sáng vàng đổ xuống bậc thang, và không ai dám đến gần.
Hôm sau, trong căn hộ của Junho, Hyunah đặt lên bàn một cuốn sổ bìa cứng mới, trang đầu đã chép tay ba dòng quy tắc anh viết hôm ở trường cũ. Hỏi trước khi bấm. Chỉ nói điều mình thấy. Không hứa điều mình không chắc. Cô viết thêm một dòng bên dưới, nét chữ vuông vắn và hơi nghiêng: “Nhận không quá một vụ mỗi tháng, và luôn có hai người.”
“Cô định quyết định thay tôi?” anh hỏi.
“Tôi định ghi chép.” Cô hất cằm về chiếc laptop đang mở. “Anh còn thư mục ‘Không rõ’ chứ?”
Anh mở nó ra. Mười ba tấm của tháng Mười năm ngoái giờ đã thành hơn sáu trăm, chia vào các thư mục con. Nhiều thư mục mang tên người: Haeun, Baek Dohyun. Một số mang tên địa điểm, như nghĩa trang Incheon hay nhà kho cũ, những nơi anh đã quay lại hỏi và nhận về một câu trả lời hoặc một sự im lặng. Vài thư mục khác chỉ đánh dấu “chưa hỏi”. Câu hỏi anh tự đặt ra từ tháng Mười năm ngoái, về trách nhiệm đi kèm với khả năng này, anh vẫn chưa có lời đáp trọn vẹn. Nhưng bây giờ anh có ba dòng trong sổ và một người ngồi cạnh, đọc lại chúng cho anh nghe mỗi khi anh quên.
Đến cuối tháng Chín, Sở Giáo dục công bố kết luận, dày một trăm mười hai trang. Ở trang bảy mươi chín có câu mà bà Choi chép lại bằng bút mực vào cuốn sổ nhỏ: “Cái chết của học sinh Jung Haeun là hệ quả của việc không khắc phục hạng mục nguy hiểm đã được kiểm định kết luận, cùng việc cho phép sử dụng khu vực này. Em không vi phạm nội quy.” Thư chính thức gửi tận nhà. Cụm từ “học sinh tự ý” bị gạch khỏi hồ sơ lưu. Quỹ Cheongsan đăng thư xin lỗi trên ba tờ báo. Ông Gu Taeshik ra trước hội đồng, đọc lời khai không cần giấy, và không xin điều gì cho mình. Thời hiệu khởi kiện dân sự đã hết từ lâu, nhưng quỹ tự nguyện bồi thường. Bà Choi nhận. Bà giữ lại đủ để thay cái bếp ga cũ, còn lại dồn hết vào Học bổng Jung Haeun, cấp cho câu lạc bộ nhiếp ảnh của các trường công khó khăn. Người giữ sổ quỹ là Jiwoo. Mỗi cuối tuần cô đến nhà bà ăn cơm, và lần đầu tiên trong hai mươi năm cô ăn hết cả bát.
Cuối tháng Mười, khi lá phong trên Naejangsan chuyển sang màu mà họ đã thấy hồi năm ngoái, Junho và Hyunah đi dọc con đường mòn lúc bảy giờ sáng. Sương còn bám trên đá. Cô mang bình trà lúa mạch, anh mang chiếc máy ảnh với ống kính mới thay hồi mùa xuân, và họ đi cạnh nhau, cô ở bên trái anh.
“Cô cứ qua bên phải đi,” anh nói, “tôi có xô cô đâu.”
“Anh hay bước nhanh,” Hyunah đáp. “Ở bên phải thì thế nào tôi cũng bị anh bỏ lại sau.”
Anh bật cười, rồi nhận ra Jiwoo từng nói một câu gần như thế về một người khác. Anh chậm bước.
Đến khúc quanh, dưới tán phong đỏ rực, họ tới chỗ trong tấm ảnh đầu tiên. Anh giơ máy lên nhìn qua màn hình xem trước. Một người phụ nữ mặc áo trắng đứng quay lưng, hai tay buông thõng, nhìn về thung lũng đầy sương. Anh chưa bao giờ biết bà là ai.
Anh không bấm. Anh hạ máy xuống ngang ngực, bước thêm nửa bước, và nói bằng giọng bình thường, như nói với người đang đứng sẵn trước mặt:
“Chào bà. Tôi là Park Junho, tôi chụp ảnh. Năm ngoái tôi đã chụp bà mà không hỏi. Hôm nay tôi hỏi: bà có muốn tôi chụp không? Nếu không, tôi sẽ chỉ đứng đây một lát.”
Người phụ nữ trong màn hình vẫn quay lưng. Gió thổi qua rặng phong, vài chiếc lá bay xuống con đường mòn, và bóng người ấy không động đậy.
“Có lẽ bà ấy cần nhiều hơn một buổi sáng,” Hyunah nói khẽ.
“Tôi có thời gian.” Anh đóng nắp ống kính lại.
Họ ngồi xuống tảng đá bên đường. Hyunah rót trà vào nắp bình, đưa cho anh trước. Hơi nước bốc lên, tan vào sương. Phía dưới thung lũng, tiếng chuông của một ngôi chùa nào đó vọng lên, lúc ngân lúc lặng. Một lúc sau anh thấy bàn tay cô kéo nhẹ ống tay áo mình cho ngay ngắn, và cô không rút tay về.
Chưa có bình luận cho chương này.