Cuối xuân năm thứ hai, sau bữa tối, Vân Thanh lẳng lặng rời khỏi bếp trong lúc ba đứa trẻ đang cãi nhau xem ai rửa nồi đồng.
Ông ra hiên tây, nơi duy nhất trong cả sơn môn còn giữ được chút im lặng, ngồi xuống chiếc ghế mây cũ. Phía sau lưng ông, tiếng muôi va vào nồi, tiếng Minh Tùng khẳng định bùa của gã chưa bao giờ làm nồi sạch hơn, tiếng Hạo Phong cười hiền hòa như mặt hồ. Hai năm trước, những âm thanh này sẽ khiến ông lên cơn đau đầu. Đêm nay ông ngồi nghe chúng với thái độ của người đang nghe nhạc mà không muốn thừa nhận.
Trời quang. Bầu trời núi hiện ra trước mặt, đầy sao đến mức ban đêm trông như bị rắc muối, trải từ chân trời này sang chân trời kia, rõ hơn bất kỳ nơi nào ở dưới chân Điêu Phong.
Có tiếng bước chân đều đặn quen thuộc, giày vải chạm sàn gỗ, như người đang đếm. Tuệ Nhi đặt xuống bàn nhỏ hai chén trà gừng nóng, ngồi xuống cạnh ông, không cần được mời, không hỏi gì. Cậu học trò đã học được từ lâu khi nào nên ngồi cạnh và khi nào nên giữ khoảng cách.
Họ im lặng một lúc dài, cái im lặng không khó chịu.
“Ngươi không hỏi tại sao hai năm rồi ta chưa dạy chiêu thứ chín?” Vân Thanh hỏi, không quay đầu.
“Dạ không. Con nghĩ sư phụ có lý do. Đến lúc thích hợp, sư phụ sẽ dạy.”
“Đoán xem lý do là gì.”
Tuệ Nhi suy nghĩ, không trả lời nhanh. “Sư phụ muốn con vững nền trước khi học thứ phức tạp hơn. Học nhiều mà nền không chắc thì đến lúc cần dùng sẽ hỏng, không bằng học ít mà chắc.”
“Đó là phần đúng.” Ông nhìn một chùm sao xa ở góc trời phía bắc. “Phần còn lại là ta muốn nhìn xem các ngươi dùng những gì đã học trong đời sống thường ngày. Trước khi dạy thêm thứ có thể gây hại lớn hơn, nếu người học dùng sai theo cách ta không lường được.”
“Sư phụ muốn chắc con không dùng nó làm điều xấu. Như người đã học từ sư phụ và không trở về?”
Vân Thanh không đáp. Gió đưa mùi thông lên từ rừng.
“Người đó cũng tốt bụng lúc mới đến gặp ta,” ông nói cuối cùng. Giọng ông không mang oán hận, chỉ mang một sự hiểu biết đắng nghét đã học qua những bài học rất cụ thể. “Tốt bụng lúc bắt đầu không bảo đảm điều gì về sau, khi người ta có thêm sức mạnh và cơ hội.”
Tuệ Nhi nhìn bầu trời rất lâu. Cậu cầm chén trà, xoay nhẹ trong tay, nhìn hơi nóng bốc lên rồi tan trong gió.
“Con không thể hứa điều gì về tương lai,” cậu nói, chậm rãi, kiểu của người đang chọn từng chữ như chọn từng viên đá cho một bức tường. “Con chưa biết mình sẽ thành người như thế nào. Con chỉ hứa được về hiện tại, về người con đang là và thấy mình đang là.”
Ông im lặng khá lâu sau câu đó. Gió núi thổi nhẹ, không đủ lớn để làm ồn, chỉ đủ để người ta biết đang ở trên cao.
“Đó là câu trả lời trung thực nhất ta từng nghe từ một đứa học trò,” ông nói.
“Dạ. Con không biết nói khác với điều con nghĩ.”
“Ta biết.” Ông nhấp trà. “Đó là điều làm ta lo.”
Tuệ Nhi cười khẽ, cái cười trong bụng mà ông đã học cách đọc. Cậu thò tay vào áo, lấy ra một tờ giấy nhàu nát mà ông nhận ra ngay: bản đồ của cậu, tờ giấy ông đã giữ trong tay áo từ ngày Huyền Linh phái xuất hiện, và trả lại cho cậu hồi mới dọn lên núi mà không nói lời nào.
“Sư phụ có nghĩ đến người đã vẽ nó không?”
“Thỉnh thoảng.”
“Con xem nó rất nhiều lần.” Cậu trải bản đồ lên đầu gối. “Nét vẽ này của người cực kỳ kiên nhẫn. Họ vẽ cả cánh cửa mười hai con hạc, cả cây thông nghiêng, cả con chim đậu trên cành. Họ biết nhà sư phụ rõ như biết mu bàn tay mình. Họ còn gọi sư phụ là Vân Cô.”
“Ta để ý.”
“Và hai năm nay, không ai khác từ phía Huyền Linh theo bản đồ này đến cả. Nghĩa là người vẽ không phải kẻ thù của sư phụ. Hoặc là chưa nói với ai khác.” Tuệ Nhi ngẩng đầu. “Sư phụ không muốn biết họ là ai ạ?”
Ông nhìn mười hai con hạc nhỏ xíu trong nét mực. Ông biết mình có một ý nghĩ rất mơ hồ, mơ hồ đến mức nếu nhìn thẳng vào nó thì nó biến mất như bóng ma trong ánh nến. Ông cố tình không nhìn thẳng vào.
“Ba nghìn bậc đá,” ông nói. “Ai muốn gặp ta thì tự leo lên.”
Tuệ Nhi gật đầu, cuộn tờ bản đồ lại, nhét trở vào áo. Một lúc sau, ông thấy cậu cười thêm lần nữa, lần này là cười thật ra ngoài.
Phía sau, tiếng cãi vã trong bếp đã dừng. Có tiếng nước đổ, tiếng bát xếp chồng, tiếng Hạo Phong gọi “Ai uống thêm cháo không ạ” và tiếng Minh Tùng đáp “Con!”
“Ba đứa,” Vân Thanh nói, mắt vẫn nhìn bầu trời. “Là đủ. Ta không nhận thêm.”
“Dạ.”
Một lúc im lặng. Tuệ Nhi hớp một ngụm trà, đặt chén xuống, nhịn không nổi mà cười.
“Gì?”
“Dạ, không có gì ạ. Chỉ là hồi nãy sư phụ nói ‘ba đứa’, mà sư phụ còn chưa chịu nhận một đứa nào.”
Ông mở miệng định cãi, nhưng sao đêm ấy quá nhiều và gió quá nhẹ, và ông thấy không còn câu nào đáng để nói. Ông uống nốt chén trà.
“Đi ngủ.”
“Dạ, thưa sư phụ.”
Sáng hôm sau, lúc bình minh, khi Vân Thanh bước ra sân và nhìn lên cành thông cạnh cổng, ông thấy một chấm vàng nhỏ. Con hoàng oanh nghiêng đầu nhìn xuống sơn môn, nhìn các căn nhà, nhìn sân luyện, nhìn ba cái bóng đang xếp hàng tập bài đầu trong sương sớm. Rồi nó bay đi. Nó bay vút lên cao rồi lượn một vòng, hướng về phía đông bắc, nhanh như người đang vội mang tin về cho ai đó đã chờ rất lâu.
Ông nhìn theo nó cho đến khi mất hút, và không hiểu vì sao mình lại muốn cười.
Chưa có bình luận cho chương này.