Nhật ký thám hiểm hang Khammouan, Lào
Ngày 13 (ba ngày sau khi ra khỏi hang):
Chúng tôi thuê một căn gác trên chợ ở Thakhek. Sàn gỗ kẽo kẹt, quạt trần quay chậm, và chỉ sau một buổi sáng, cả căn phòng đã nồng mùi bùn khô từ đôi giày chưa ai chịu giặt. Marcos chiếm chiếc bàn dài với hai máy tính xách tay và một đống ổ cứng. Sato ngồi dưới sàn cạnh cửa sổ, lọc sáu trăm tấm ảnh thành từng nhóm. Tôi cầm tách cà phê đã nguội, đứng sau lưng Marcos và nhìn những vệt màu cam chạy ngang màn hình.
“Đây là đêm ngày 5,” Marcos nói. “Tôi đặt hai máy thu cách nhau ba mươi mét ở Khoang Vòm, nhớ chứ? Mỗi vạch dọc này là một tiếng gõ.”
Tôi đếm theo ngón tay anh trỏ. Ba vạch, một khoảng trống, rồi ba vạch nữa. Ở đoạn kế tiếp, nhóm thứ hai chỉ còn hai vạch.
“Ba, nghỉ, ba. Ba, nghỉ, hai,” anh đọc to. “Cứ khoảng bốn mươi bảy phút lặp lại một lần. Tôi dò sang đêm ngày 6, ngày 8, ngày 9. Y hệt, không sai nhịp nào. Nước nhỏ giọt không đều đến mức này. Đá nứt do nhiệt cũng không.”
“Hướng thì sao?”
“Nhờ hai máy thu, tôi tính được hướng sơ bộ. Từ phía dưới, lệch về đông.” Anh gõ ngón tay vào bản đồ tầng bốn mà chúng tôi vẽ tay. “Đúng chỗ dòng nước ngầm chui xuống. Tức là về phía tầng năm.”
Sato đặt tấm ảnh xuống. “Có thể là một con vật. Dơi? Một loài sống dưới đáy hang mà ta chưa biết?”
“Dơi không biết nghỉ đúng một nhịp thở rồi gõ lại đúng số lần,” Marcos nói. “Còn đây mới là phần tôi chưa kể với ai.”
Anh kéo một tệp khác lên. Đó là bản ghi từ máy thu nhỏ anh để quên trong ba lô hôm ngày 7, cái ngày chúng tôi lạc bốn tiếng. Anh chỉnh âm lượng rất khẽ, và trong căn gác ồn tiếng chợ bên dưới, tôi vẫn nghe được hơi thở của chính chúng tôi, tiếng giày lạch cạch trên đá, một tiếng thì thầm tiếng Lào.
Rồi: cộc, cộc, cộc. Dừng. Cộc, cộc, cộc.
“Đó là Bounmy,” tôi nói. Tôi nhớ lúc ấy ông đi trước chúng tôi vài bước, bàn tay đặt lên vách đá như người sờ trán một đứa trẻ.
“Ông ấy gõ vào vách. Không ai trong chúng ta để ý.” Marcos giơ một ngón tay. “Chờ.”
Chín giây im lặng. Rồi, từ rất xa, mỏng như gõ qua lớp vải: cộc, cộc, cộc. Dừng. Cộc, cộc.
Không ai trong phòng nói gì. Cái quạt trần quay thêm vài vòng.
“Tôi đã đo kỹ,” Marcos nói, giọng thấp hẳn. “Hai máy thu cho thấy tiếng trả lời phát ra ở cách chúng ta chừng bảy mươi mét, dọc theo hành lang. Âm thanh đi bảy mươi mét chỉ mất hai phần mười giây. Nhưng nó đợi chín giây mới đáp. Tiếng vọng không biết chờ, Yuna ạ. Tiếng vọng trả lại ngay lập tức, nguyên vẹn, theo đúng nhịp mình đưa vào. Còn cái này thì nghe xong, nghĩ một lúc rồi mới nói.”
“Nghe xong rồi nói,” tôi lặp lại. Tôi nhớ câu của Bounmy trong hang, ở tầng bốn, khi chỉ còn hai chúng tôi.
Tôi đã định không kể. Nhưng sau cuộc đối chiếu này, giữ riêng nó trong sổ ghi chú cá nhân có vẻ hơi hèn. Tôi đọc cho cả hai nghe.
“Hang này nghe được mình,” Sato nhắc lại, chầm chậm. Anh nhìn tấm ảnh trong tay mình một lúc lâu.
Đó là tấm ảnh những bàn tay đỏ ở tầng ba. Anh đã nâng độ tương phản, và khi các đường viền hiện lên rõ như vậy, tôi nhận ra điều mà ngoài hang không ai nhìn ra: mười bốn bàn tay không rải ngẫu nhiên. Chúng tụ thành từng cụm, ba bàn rồi hai bàn, ba bàn rồi hai bàn, kéo dài dọc vách đá như một hàng chữ.
“Nhịp,” anh nói khẽ. “Chúng được xếp theo nhịp.”
“Có thể chỉ là trùng hợp,” tôi nói, vì một nhà khoa học phải nói câu đó.
“Có thể,” Marcos đồng ý, và không ai trong phòng tin vào chữ ấy.
Chiều muộn, chúng tôi ngồi lại bàn chuyện bản báo cáo. Giấy phép nghiên cứu quy định rõ: trong mười bốn ngày sau chuyến đi, đội phải nộp lên Phòng Di sản của tỉnh toàn bộ tọa độ các dấu tích nhân tạo. Căn phòng có những bàn tay cổ nằm trong diện đó, và tôi không có quyền giấu. Tôi quyết định tách phần tọa độ ra thành một phụ lục niêm phong, chỉ nộp bản giấy cho cán bộ phụ trách, không đưa vào bản điện tử. Bản ghi âm và nhịp gõ thì chưa nên đưa vào đâu cả. Chúng tôi còn chưa biết mình đã nghe thấy gì.
“Tôi chưa ghi tên Bounmy cùng câu nói của ông ấy vào báo cáo,” tôi nói. “Ông ấy chưa cho phép.”
“Đúng,” Marcos nói. “Câu đó chưa phải của ta.”
Tôi viết vào sổ: Danh sách đội gồm bốn người. Phần ghi âm: giữ lại, chưa công bố.
Gần tối, tôi nhìn thấy Sato đứng bên cửa sổ, quay lưng về phía chúng tôi, điện thoại trong tay. Anh đứng như vậy rất lâu, ánh sáng từ màn hình hắt lên cằm. Tôi nghĩ anh đang nhắn tin cho gia đình ở Osaka, vì tuần này anh chưa gọi về nhà lần nào. Tôi không hỏi.
Ghi chú: sáng mai nhờ chủ nhà đưa số của trưởng bản dưới chân hang. Bounmy không có điện thoại. Muốn hỏi ông ấy một câu mà tôi chưa biết cách hỏi cho đúng: người trong làng gõ vào hang để làm gì?
Đêm nay tôi nằm nghe tiếng chợ về khuya. Xe máy. Tiếng bát đĩa. Một người đàn bà gọi con về ăn cơm.
Đó là những âm thanh quen thuộc của thế giới bên trên. Không có cái nào trả lời mình cả.
Chưa có bình luận cho chương này.