Dáng vẻ nàng tuy có phần nịnh nọt nhưng lại chẳng hề ti tiện, cũng không tỏ ra khúm núm quá mức, trong từng lời ăn tiếng nói ngược lại còn mang theo vẻ ung dung khiến người ta dễ chịu, thêm vào đó khi nói chuyện luôn tươi cười, thành thử cũng chẳng ai nỡ so đo bộ dạng có phần lôi thôi lếch thếch cùng tư thế đứng tùy tiện của nàng.
Tề Huyên nghĩ tới việc chuyến đi Đan Ngọc lần này bọn họ chủ trương giản lược hành trang nên không mang theo nhiều người, nhân thủ có đủ hay không hãy khoan bàn tới, y giữ chức Hình bộ Thượng thư nên hiểu rất rõ muốn phá án thì không thể thiếu sự trợ giúp của bách tính nơi đầu đường xó chợ, có rất nhiều tin tức vốn dĩ nha môn không tài nào nắm được. Y thu lại ánh mắt dò xét, hòa hoãn bảo: "Phùng Tông khen ngươi hết lời, bảo có ngươi giúp sức thì việc điều tra vụ án Hứa tri huyện bị hại sẽ làm chơi ăn thật thu được kết quả gấp bội, đừng để bổn vương thất vọng."
"Vương gia đã đồng ý thì bổn quan cũng chẳng tiện ngăn cản." Triệu Khác đứng dậy, cười tủm tỉm nhìn Chu Hạnh nói, "Vậy ngươi phải cẩn thận đấy, nhược bằng làm hỏng việc thì coi chừng lớp da của ngươi."
Chu Hạnh vội vàng vâng dạ, khom mình nép sang nhường đường, lại sốt sắng nói: "Được Vương gia để mắt tới là vinh hạnh của tiểu nhân, tiểu nhân nhất định sẽ dốc hết sức mình phò tá Vương gia phá án."
Mấy người rời khỏi trà lâu, đi tới Hứa trạch. Cổng trạch đã treo cờ trắng, người hầu trong nhà sớm đã bị đuổi đi gần hết, chỉ còn sót lại mấy kẻ hầu hạ Hứa phu nhân cùng tiểu thiếp nơi hậu viện, khiến cả tòa nhà toát lên vẻ quạnh quẽ và thê lương.
Thư phòng cùng tiền đường trước đó đã bị nha môn niêm phong, mấy ngày nay đều cắt cử người canh giữ, bảo đảm mọi thứ vẫn giữ nguyên hiện trạng lúc Hứa Phụng bị hại. Hạ nhân trong trạch cũng đã bị thẩm vấn nhiều lần, đều khai rằng khi ấy Hứa Phụng trở về với vẻ giận dữ đùng đùng, vạt áo có vết bẩn, vừa về đã đi thẳng vào thư phòng, còn dặn dò bất kể khách nào tới cũng không tiếp, mãi đến giờ cơm tối người hầu mới phát hiện ông đã chết trong phòng.
Niêm phong được xé ra, vừa bước qua cửa đã thấy vàng bạc vụn, tiền đồng vương vãi khắp mặt đất, bày biện trong thư phòng khá giản dị, đồ đạc đều được xếp đặt ngay ngắn, càng làm nổi bật những vệt máu bắn tung tóe lúc Hứa Phụng bỏ mạng trông ghê rợn rợn người. Dẫu cho máu tươi đã sớm khô khốc ngả sang màu đen, mùi máu tanh nồng nặc trong không khí vẫn chẳng chịu tan biến, Tề Huyên chỉ vừa nhìn một thoáng, đôi mắt lập tức đỏ hoe, đứng sững trước bàn hồi lâu không nói một lời.
Triệu Khác được Phùng Tông tháp tùng đi sang những chỗ khác thăm dò. Lục Chước Quang tò mò với thư phòng hơn nên không đi theo. Chu Hạnh thì lượn lờ quanh quẩn cả trong lẫn ngoài thư phòng.
Đây hẳn là lần đầu nàng bước chân vào phủ đệ của quan huyện, chẳng khác nào người miền núi lần đầu lên phố, không kìm được mà nhìn đông ngó tây, đôi móng vuốt chẳng mấy an phận kia rất nhanh đã rục rịch ngứa ngáy, trước tiên s* s**ng hoa văn điêu khắc trên cột, lại sờ cây đèn bạch ngọc, thậm chí còn nhấc bổng con gà đứt đầu trong góc phòng lên xem.
Do tiết trời giá rét, xác con gà này đã đông cứng ngắc, không có dấu hiệu thối rữa, nàng liền bảo muốn mang về hầm nấu, dẫu người không ăn được thì đem cho chó cũng tốt, còn hơn là lãng phí. Nhưng sau khi bị thị vệ đứng canh ngoài cửa trừng mắt quát tháo không được táy máy, nàng mới ngậm ngùi đặt xuống.
Chu Hạnh bị mùi máu nồng nặc trong phòng hun cho hắt hơi một cái, bèn dạt ra mé cửa, lại bị luồng gió lạnh thấu xương ập tới làm cho rụt cả cổ lại, hai tay cũng đút vào trong tay áo bông, tựa vào khung cửa như một đống bùn nhão, ngáp dài một cái đầy buồn chán, mí mắt sụp xuống, bất giác lộ vẻ mệt mỏi rã rời.
Lục Chước Quang quan sát một vòng trong phòng rồi dừng lại bên cạnh bàn. Ngoại trừ then cài cửa bị đập hỏng khi phá cửa xông vào lúc trước, các khung cửa sổ khác đều không có chút dấu vết bị cậy phá nào, trên bàn bày sách vở cùng nghiên bút văn phòng tứ bảo, ngoài ra còn có một đĩa điểm tâm. Chiếc đĩa chia bốn ô vuông, các ô khác đều đầy ắp, duy chỉ có ô đựng bánh hoa tuyết là vơi đi hai miếng.
Hắn nhặt miếng bánh hoa tuyết còn lại lên ngửi thử rồi đặt về chỗ cũ, chợt ngẩng đầu nhìn Chu Hạnh đang dính chặt lấy khung cửa: "Chu cô nương, trong thành này có lầu kịch nào không?"
Mí mắt đang lười biếng của Chu Hạnh khẽ nhướng lên, nét mặt trong khoảnh khắc thoáng qua một tia biến đổi rất khẽ, nàng xoay người nhìn Lục Chước Quang, cười như không cười: "Huyện Đan Ngọc cấm diễn hí kịch. Trước kia có một lầu kịch trăm năm tuổi bị phá dỡ, từ đó về sau không dựng lại cái mới nữa."
"Vì sao?" Lục Chước Quang chưa từng nghe nói ở đâu lại cấm diễn hí kịch, không khỏi lấy làm lạ, bước lên trước hai bước, dừng lại bên bệ cửa sổ, ánh nắng ban mai xuyên qua song cửa chiếu rọi vào, vừa vặn phủ lên người hắn.
Tiết trời tháng Chạp này, gió lạnh ở Đan Ngọc còn buốt giá hơn cả kinh thành, người người đều khoác áo bông dày cộm, duy chỉ có Lục Chước Quang mặc phong phanh, tôn lên thân hình cao ráo thanh mảnh, bóng hoa văn khung cửa in lên tà áo trắng sờn cũ, rọi khuôn mặt hắn trắng trẻo nho nhã, càng làm nổi bật đôi mày mắt đậm nét tựa mực tàu.
Chu Hạnh như thể đến tận lúc này mới phát hiện người này sở hữu một gương mặt tuấn tú kinh động lòng người, cứ thế trừng trừng nhìn hắn không chớp mắt: "Lục tú tài nếu muốn biết, chi bằng bước ra ngoài này nói chuyện."
Lục Chước Quang không hiểu vì sao hỏi một câu thôi mà cũng phải đổi chỗ mới nói được, nhưng trong lòng thực sự hiếu kỳ nên đành làm theo, ra khỏi thư phòng rồi rảo bước theo sau Chu Hạnh, đứng dưới hành lang có mái che khuất gió.
Hắn hy vọng Chu Hạnh có thể bớt nói chuyện phiếm, trả lời câu hỏi một cách mau lẹ và súc tích, nhưng Chu Hạnh nhìn từ cách ăn vận đã không phải kẻ dứt khoát nhanh nhẹn, xương cốt lại như mềm oặt, đi đến bên cửa thì tựa vào khung cửa, dừng lại dưới hành lang thì nhoài người lên lan can, ung dung phóng tầm mắt ngắm nhìn ra ngoài sân: "Lục tú tài là người kinh thành à?"
Lục Chước Quang khẽ rủ hàng mi, thu trọn tư thế đứng chẳng mấy đoan chính kia của nàng vào mắt, ôn tồn đáp: "Chỉ là lớn lên ở kinh thành thôi."
Chu Hạnh gặng hỏi: "Lấy nghề gì mưu sinh thế?"
Lục Chước Quang đáp: "Tạm nương nhờ Triệu gia, làm chân môn khách."
"Xưa nay nghe đồn dưới trướng đám quan lại quyền quý phần lớn đều nuôi môn khách nhàn tản, chỉ là yêu cầu khắt khe, kẻ tầm thường khó lòng lọt vào mắt xanh của bậc quý nhân."
Chu Hạnh xoay người, chống cùi chỏ lên lan can, lưng tựa vào rặng hoa mai đang nở rộ khắp sân, tràn đầy vẻ mong đợi hỏi: "Nghĩ lại thì Lục tú tài hẳn cũng phải có một ngón nghề sở trường mới có thể trổ tài xuất chúng giữa đám môn khách đông đúc, được Triệu gia trọng dụng."
Ánh mắt ấy tha thiết khẩn khoản, dường như chỉ cần Lục Chước Quang gật đầu là nàng sẽ lập tức nài nỉ hắn biểu diễn một màn tài nghệ ngay tại chỗ.
Khóe môi Lục Chước Quang thoáng nụ cười: "Tôi đọc sách rất giỏi."
Chu Hạnh thầm nhủ thế này mà cũng tính là một sở trường sao? Vậy nếu ta ăn cơm giỏi thì chẳng phải cũng bám víu được một thế gia đại tộc làm chân môn khách hay sao?
Lời ấy lượn một vòng trong bụng nàng rồi nuốt xuống, chỉ hỏi: "Giỏi đến mức nào?"
"Tôi đọc sách nhanh, lại nhả chữ rõ ràng, mặt chữ nhận biết không sót chữ nào."
"Bảo sao ngài thi đỗ tú tài, khắp mười dặm tám thôn ở quê chúng tôi cũng chẳng bới đâu ra một người đọc sách giỏi giang như ngài." Chu Hạnh tuôn ra cả thúng lời nịnh nọt dễ như trở bàn tay, khen ngợi chân thành tha thiết, chẳng lộ chút vẻ qua loa nào, đoạn chuyển giọng, "Ngài thích nghe kịch à?"
"Lúc rảnh rỗi cũng có nghe đôi ba khúc." Lục Chước Quang khẽ gật đầu, thuận miệng hỏi, "Đan Ngọc vì sao lại cấm diễn hí kịch?"
Đuôi mày Chu Hạnh khẽ động, dấy lên một nét giễu cợt bất cần đời: "Chuyện này có liên quan tới một đoạn phong lưu dĩ vãng của Hứa tri huyện, ban nãy gọi Lục tú tài ra đây nói cũng là vì không muốn khua môi múa mép ở nơi người chết vừa nằm xuống."
"Nghe đồn hồi Hứa tri huyện mới tới Đan Ngọc nhậm chức, thường hay lui tới lầu kịch nghe đàn hát, qua lại dăm bữa nửa tháng liền vừa mắt với cô đào hát thanh y trụ cột của gánh hát kia.
Chỉ hiềm con hát bạc tình, Hứa tri huyện vì ả vung ra không biết bao nhiêu vàng ròng bạc trắng, vậy mà cô nàng vừa quay mặt đi đã đòi cắt đứt quan hệ với Hứa tri huyện. Đường đường là một tri huyện tự nhiên không thể làm ra trò cướp đoạt dân nữ bỉ ổi, rốt cuộc đành trút cơn thịnh nộ lên lầu kịch, tùy tiện kiếm một cái cớ sai người tới đập phá tan tành, từ đó về sau sinh lòng căm ghét phường xướng ca, hạ nghiêm lệnh cấm diễn hí kịch, cho nên bao năm nay Đan Ngọc không còn dựng lại lầu kịch nào nữa, càng không thả cho bất kỳ gánh hát nào bén mảng vào thành."
Lục Chước Quang nghe xong câu chuyện phong lưu chẳng khác nào chuyện nực cười này cũng không hề lộ vẻ kinh ngạc, qua một hồi lâu mới thong thả buông lời nhận xét: "Hứa đại nhân quả là người nặng tình."
"Chứ còn gì nữa, người đã ngoài năm mươi rồi mà còn nông nổi theo cảm tính hơn cả đám người trẻ tuổi chúng ta." Chu Hạnh chợt hạ thấp giọng, thanh âm nhuốm đôi phần bí hiểm, "Hiện giờ trong thành đã không còn lầu kịch, thế nhưng tôi lại biết một nơi vẫn có thể nghe người ta cất giọng hát đôi ba câu."
Lục Chước Quang nhìn vào mắt nàng, bấy giờ mới nhận ra con ngươi của nàng không đen như người thường mà hơi ngả sắc nâu, qua ánh nắng rọi vào lại càng giống như đá hổ phách: "Nơi nào?"
"Phong Nguyệt Lâu."
Cái tên này vừa nghe đã biết chẳng phải chốn đàng hoàng tử tế, Lục Chước Quang vừa định mở miệng chối từ, sau lưng bỗng vang lên giọng nói trầm thấp: "Lục tú tài."
Hai người đồng thời quay đầu nhìn lại, liền thấy một thị vệ trẻ tuổi rảo bước đi tới. Thị vệ kia diện mạo đoan chính, nước da màu lúa mạch dãi dầu phong sương, vì trên mặt không có biểu cảm gì nên trông càng thêm lạnh lùng nghiêm nghị, chính là thị vệ thống lĩnh Lý Ngôn Quy bên cạnh Triệu Khác.
Gã dừng bước trước mặt Lục Chước Quang, trước tiên đưa mắt dò xét nhìn Chu Hạnh một lượt rồi mới nói: "Vừa nhận được tin báo mới, có người từng tận mắt thấy Hứa tri huyện trước khi bị hại đi ra từ cửa sau của thanh lâu, công tử hiện tại muốn tới thanh lâu tra án, sai ta tới truyền huynh cùng đi."
Hứa trạch đã bị nha môn lùng sục nhiều lần, Phùng Tông dẫn người hận không thể đào sâu ba thước đất để tìm manh mối, bởi vậy tình hình ở thư phòng cùng những nơi khác giống hệt như những gì ghi chép trong hồ sơ, chẳng sai một ly, không thể moi thêm được bất kỳ tin tức mới nào.
Tề Huyên dẫu không cam lòng cũng đành phải thôi, vừa hay gặp lúc thám tử do Triệu Khác phái đi báo về manh mối mới, một đoàn người liền vội vã rời khỏi Hứa trạch.
Vì chuyến này không phải đi uống rượu mua vui, để bảo đảm việc phá án thuận lợi, Tề Huyên hạ lệnh cho người tới huyện nha xin lệnh khám xét, nhưng lại bị Chu Hạnh cản lại. Nàng vừa nghe nói muốn tới Phong Nguyệt Lâu liền vỗ đùi một cái, tự đề cử mình: "Chẳng phải khéo quá sao, nơi này tôi quen lắm, không cần cầm lệnh khám xét làm gì, tôi dẫn các người vào, bảo đảm thông suốt không ai cản trở!"
Mấy người họ chẳng rõ Chu Hạnh là hạng nhân vật nào, nhắc tới Phong Nguyệt Lâu mà cứ như đang nói về sân sau nhà mình, không khỏi lộ vẻ hoài nghi, song Chu Hạnh thề thốt chắc nịch, trông chẳng giống khoác lác chút nào, quả nhiên lập tức dẫn mấy người họ đi thẳng tới "mật đạo" của thanh lâu.
Phong Nguyệt Lâu là thanh lâu lớn nhất trong thành, nhưng cũng chẳng bề thế xa hoa cho lắm, tính cả thảy chỉ cao có hai tầng. Trước cửa treo đôi lồng đèn đỏ lớn đã bạc màu, chính giữa là một tấm biển nhòe nhoẹt vết mực, đề ba chữ "Phong Nguyệt Lâu" rồng bay phượng múa.
"Mật đạo" của thanh lâu rất ít người biết tới, nằm nép mình trong một con ngõ hẹp chỉ vừa đủ cho hai người đi song song, đầu ngõ hễ đỗ một cỗ xe ngựa là có thể che chắn kín mít, vô cùng thích hợp cho phường lén lút trộm hương trộm ngọc.
Mấy người đi vào từ cửa sau, thị vệ dàn thành hai hàng định tiến lên mở đường, Chu Hạnh vội chạy lon ton mấy bước chắn ngay phía trước, cười làm lành: "Các vị đại nhân, trong thanh lâu đa phần là nữ tử chân yếu tay mềm, các vị thị vệ đây uy dũng phi phàm, cứ thế xông vào e là sẽ dọa bọn họ sợ chết khiếp, chi bằng cứ tạm đợi dưới lầu trước đã?"
Tề Huyên xua tay, chỉ mang theo thị vệ lên lầu, lệnh cho đám nha dịch túc trực chờ ở dưới. Sau đó Chu Hạnh đi trước dẫn đường, nàng là khách quen ở chốn này, vừa bước qua cửa đã có gã tiểu sai chạy tới khom lưng uốn gối chào một tiếng "Hạnh tỷ".
Chu Hạnh nhét vào tay gã mấy đồng tiền, sai gã đi mời tú bà tới, đoạn dẫn mấy người lên nhã gian trên tầng hai, gian phòng không lớn nhưng bày biện trang nhã, sạch sẽ tinh tươm.
"Các cô nương ở đây ai nấy đều có giọng hát ngọt ngào, Anh nương lại càng có ngón đàn vô song, khúc nhạc nào cũng biết hát, trước khi Đan Ngọc cấm diễn hí kịch ả thường đóng vai thanh y, có điều giờ đã làm tú bà rồi nên không bán nghệ nữa, chỉ khi nào cao hứng mới chịu cất giọng thôi."
Chương trước
Chọn chương Chương tiếp
Chưa có bình luận cho chương này.