Núi Chung Nam.
Chùa Sùng Phúc nằm ở ngách bắc của phường Vĩnh Ninh, vốn là biệt uyển của một vị quan quý nhân triều trước, sau này được hiến tặng để làm chùa.
Chùa không lớn, cảnh sắc lâm viên cũng chẳng có gì đáng nói, thế nên giữa thành Trường An san sát đền chùa miếu mạo, nơi này trông vô cùng mờ nhạt, khách hành hương ghé thăm đa phần là cư dân trong phường, chỉ cầu một chữ tiện đường.
Hôm nay là ngày Nhân Nhật, sĩ tử và thứ dân trong thành người thì đoàn tụ với gia đình, kẻ lại đi tảo mộ thăm thân. Trong chùa vắng tanh vắng ngắt, dăm ba bóng người thưa thớt đều đang bái Phật tổ ở chính điện, còn La Hán đường phía sau thì không một bóng người.
Hải Triều đẩy cửa bước qua bậu cửa vào trong Phật đường. Bên trong u tối lạnh lẽo, thoang thoảng mùi bụi bặm và gỗ mục, mùi hương khói ngược lại thanh đạm đến mức gần như không ngửi thấy.
Mười tám pho tượng La Hán cao nửa người đặt vây quanh Phật đường, những kẽ hở trên hoa văn tòa sen bám một lớp bụi dày cộm. Bản thân các pho tượng cũng đã loang lổ phai màu, gương mặt mờ căm, rõ ràng là từ rất lâu rồi chưa được sơn sửa, tân trang lại.
Nàng đếm từ phía đông sang, đến pho tượng thứ mười một thì dừng bước.
Hải Triều không tin Phật, chẳng rõ đây là vị La Hán nào, nàng tiến lên quan sát một lượt, rồi nhấc bổng pho tượng ra khỏi tòa sen.
Tượng La Hán nhẹ hơn nàng tưởng. Nàng cẩn thận đặt bức tượng gỗ nằm ngang trên mặt đất, cúi người quan sát phần đáy, vân gỗ và màu sắc ở chính giữa không hề khớp với xung quanh.
Nàng gập ngón tay gõ nhẹ, tiếng “bôm bốp” vang lên, bên trong quả nhiên rỗng ruột.
Hải Triều tháo miếng gỗ nhỏ chèn bên ngoài ra, thọc tay vào trong đế tượng mò mẫm, chạm phải một ống tre.
Cất ống tre vào trong ngực áo, rồi lại nhấc pho tượng La Hán đặt trở lại tòa sen. Ngay khi vừa định quay người rời đi, nàng bỗng khựng lại khi thấy một bóng người đang đứng ở cửa.
Người đó không biết đã đến từ lúc nào, đứng gần như vậy mà lại chẳng phát ra một tiếng động nhỏ, võ công rất có thể trên nàng.
Hải Triều lùi lại một bước, tay nắm chặt chuôi đao: “Ngươi là ai?”
Nam nhân bước hai bước qua bậu cửa, tiện tay khép cánh cửa lại. Ánh mắt hắn dời đến vết lồi của ống tre trên vạt áo Hải Triều, đánh giá: “Chốn Phật môn thanh tịnh, động đao động kiếm không cát lợi đâu. Ta khuyên cô nương tốt nhất nên chủ động giao thứ đó ra, đôi bên cùng đỡ tốn công sức, cũng tránh để máu tanh làm ô uế nơi thanh tu.”
Hải Triều lại lùi thêm một bước, siết chặt chuôi đao hơn, cảnh giác hỏi: “Ai phái ngươi đến?”
Nam nhân cười khẩy đầy khinh miệt: “Cô nương ở dưới nước thì như cá gặp nước, chứ lên bờ rồi, e là không phải đối thủ của tại hạ đâu.”
Hải Triều thận trọng đánh giá hắn một lượt, nam nhân kia cũng không vội, hắn khoanh tay tựa vào cửa, nhìn nàng với vẻ nắm chắc phần thắng.
Giằng co một lát, Hải Triều buông chuôi đao ra, rút ống tre từ trong ngực áo ném mạnh về phía gã.
Hắn giơ tay đón lấy, tán thưởng gật đầu: “Cô nương quả là người thông minh biết thời thế. Ngày hôm qua phủ Trưởng công chúa xảy ra hỏa hoạn, quan phủ đang lùng sục khắp thành để bắt những kẻ khả nghi, cô nương ra vào nhớ cẩn thận đấy.”
Hắn vừa nói vừa cạo sạch lớp sáp niêm phong trên miệng ống tre, mở tờ giấy bọc ngoài, dốc ngược đổ ra một cuộn giấy nhỏ, rồi lập tức mở cuộn giấy ra.
Sắc mặt hắn bỗng chốc thay đổi kịch liệt, đột ngột ngẩng phắt đầu lên: “Tại sao lại…”
Lời còn chưa dứt, lưỡi đao sắc lạnh đã kề ngay trên cổ hắn.
Cuộn giấy rơi rụng xuống đất, cả hai đều chẳng buồn đoái hoài, bởi vì đó chỉ là một cuộn giấy trắng không hơn không kém.
“Rốt cuộc ngươi đã tráo nó từ lúc nào?” Nam nhân nghiến răng hỏi.
Đêm qua hắn canh giữ bên ngoài kênh Long Thủ ở phủ Trưởng công chúa, vừa thấy nữ tử này lộ diện thì lặng lẽ bám theo, nhất là từ lúc nàng bước vào chùa Sùng Phúc cho đến khi lấy ống tre ra khỏi tượng Phật, hắn luôn nhìn chằm chằm không rời mắt. Trừ phi nàng biết phép thuật, bằng không tuyệt đối không thể có chuyện tráo đổi đồ vật ngay trước mũi hắn như thế được.
Chỉ có một khả năng duy nhất: Nàng đã sớm phát hiện mình bị theo đuôi, lại biết rõ mục đích của bọn họ, thế nên mới tương kế tựu kế cho người tráo đồ từ trước, rồi cố tình dẫn hắn sập bẫy.
Nhưng chuyện này làm sao có thể xảy ra được chứ?
Thiếu nữ nói: “Dẫn ta đi gặp Hà Đông Vương.”
Nam nhân không thể tin nổi vào tai mình, trố mắt nhìn nàng: “Ngươi…”
Hải Triều nói: “Ta biết ngươi là người của Bùi Huyền phái đến. Thứ ông ta muốn đang ở chỗ ta, có điều không có trên người ta đâu. Ngươi không làm theo lời ta nói thì cả đời này cũng đừng hòng tìm thấy.”
Nam nhân suy đi tính lại một hồi, nghiến răng nói: “Ta có thể chuyển lời giúp ngươi, nhưng chủ nhân có chịu gặp ngươi hay không thì một hạ nhân như ta không quyết định được.”
Hải Triều thu đao, tra vào bao: “Yên tâm đi, ông ta nhất định sẽ gặp ta.”
Đúng như Hải Triều dự đoán, Bùi Huyền đã đồng ý gặp nàng.
Ngày hôm sau, thị vệ đưa nàng đến biệt nghiệp của Bùi Huyền trên núi Chung Nam.
Phòng được xây dựng ở lưng chừng núi, những ô cửa sổ mở toang hướng thẳng ra những rặng núi trùng điệp phủ đầy tuyết trắng, một nhành mai mang sắc đen của sắt ngang qua trước bậu cửa.
Căn phòng rất nhỏ, bốn bức tường trắng xóa, bên trong không đốt chậu than, chỉ có chiếc lư hương gốm ở góc tường tỏa ra chút hơi ấm mờ nhạt.
Đồ đạc bày biện trong phòng cũng giản dị đến kỳ lạ, ngoại trừ một chiếc bàn thấp, một chiếc sập và một bức bình phong bằng gỗ ra thì không còn vật gì khác, thậm chí đến cả đàn hay sách cũng chẳng thấy đâu.
Hải Triều chú ý thấy trên chiếc bàn thấp có đặt một chiếc khay, bên trên để một chiếc chén và một chiếc ấm. Cả hai đều được mạ vàng, chạm khắc hoa văn hoa sen và cỏ cuốn vô cùng tinh xảo, hoàn toàn lạc quẻ và đột ngột giữa không gian xung quanh.
Bùi Huyền búi tóc kiểu đạo sĩ, mặc một chiếc đạo bào màu xám xanh đã hơi sờn cũ, trông khác hẳn với dáng vẻ áo gấm áo lông cáo trên triều đường, chẳng khác nào một vị dật sĩ thực sự đang ẩn cư chốn thâm sơn cùng cốc.
Thật khó để có thể liên tưởng nam nhân trước mắt này với vị tướng quân từng lập nên những chiến công hiển hách lẫy lừng năm xưa.
Nhìn gần, ngũ quan của ông ta và Lương Dạ không quá giống nhau, nhưng chỉ một cái liếc mắt vô tình cũng đủ khiến nàng nhớ tới Lương Dạ. Những người có cùng huyết thống chung quy vẫn luôn mang thần thái tương đồng, có lẽ cũng chính vì nguyên do này mà Lương nương tử mới lạnh lùng với cốt nhục ruột già của mình đến thế.
Bùi Diệp ở trong bí cảnh lại càng giống ông ta hơn, nét mặt giữa đôi mày cùng thói quen cử chỉ, hành động cứ như thể được đúc từ một khuôn ra vậy. Nếu Lương Dạ thực sự được nuôi nấng bên cạnh ông ta, có lẽ lớn lên cũng sẽ có dáng vẻ của Bùi Diệp thôi.
Hải Triều cứ ngỡ mình đã chuẩn bị sẵn tâm lý thì sẽ không bị dao động, nhưng khi nghĩ đến mục đích của chuyến đi này, lồng ngực nàng vẫn như bị vô vàn sợi tơ vô hình xuyên qua, kéo căng, nhói lên từng hồi đau đớn.
“Mời ngồi.” Bùi Huyền khẽ nâng mí mắt, ánh mắt lướt qua Hải Triều mà không hề dừng lại trên người nàng quá lâu, dặn dò tiểu đạo đồng dẫn đường đi lấy trà cụ đến.
“Không cần đâu, ta không đến đây để uống trà.” Hải Triều ngồi xuống đối diện.
“Khách từ xa đến đều là khách.” Giọng điệu của Bùi Huyền mang theo sự uy nghiêm không thể chối từ, “Những chuyện đó cũng không phải chuyện có thể nói xong trong một sớm một chiều.”
Đợi đến khi tiểu đạo đồng mang bếp lò và dụng cụ pha trà từ phòng bên cạnh sang, ông ta vén ống tay áo lên tự mình đun nước pha trà, dáng ngồi ngay ngắn cùng thần sắc tỉ mỉ, nghiêm túc kia lại một lần nữa khiến Hải Triều nhớ đến Bùi Diệp.
Sau khi nấu xong một ấm trà, ông đẩy chén trà đến trước mặt Hải Triều.
Hải Triều không hề chạm vào.
Chẳng mấy chốc, từ ngoài rèm vang lên tiếng của tiểu đồng: “Quán chủ, thuốc đã sắc xong rồi ạ.”
Bùi Huyền nói: “Mang vào đi.”
Ông ta lại hơi cúi người chào Hải Triều: “Mong tiểu nương tử đợi cho một lát, Bùi mỗ xin phép dùng thuốc trước.”
Hải Triều gật đầu, liếc nhìn chiếc bát sứ trong tay tiểu đồng, thấy nước thuốc màu nâu bên trong đặc quánh như cao, tỏa ra một mùi vị vừa tanh vừa đắng, ngửi thôi đã thấy buồn nôn.
Bùi Huyền lại giống như người mất đi khứu giác, bưng bát lên uống, đến chân mày cũng không nhíu lấy một cái đã uống cạn hơn nửa bát thuốc.
Ông ta dùng ống tay áo che miệng để súc miệng bằng trà loãng, rồi lại lấy một chiếc khăn lụa trắng nhẹ nhàng lau khóe môi.
Hải Triều ngạc nhiên: “Ông bị bệnh thật sao? Không phải đang giả vờ đấy chứ?”
Bùi Huyền không nhịn được mỉm cười: “Vọng tiểu nương tử hẳn là nghe đồn tại hạ cáo bệnh không lên triều là để tránh cái kết cục ‘chim hết cất cung’. Điều đó cũng không hoàn toàn sai, có điều ta có bệnh thật là thật. Đó là bệnh căn di chứng từ năm xưa khi ta xuống nam dẹp loạn, bệnh cũ tích tụ lâu, giờ chỉ có thể dựa vào thuốc men để sống qua ngày mà thôi.”
Hải Triều vẫn có chút hoài nghi, hôm dự yến tiệc ở hoàng cung trông ông ta vẫn thần thái ngời ngời, chẳng giống kẻ có bệnh chút nào.
Như đoán được suy nghĩ của nàng, Bùi Huyền giải thích: “Hôm đó trước khi dự yến, ta đã dùng thuốc mạnh và châm cứu, thế nên mới không lộ ra vẻ bệnh tật.”
Ông ta làm vậy tự nhiên là có lý do, những chuyện mưu mô vòng vo đó Hải Triều không hiểu, và ông ta dường như cũng chẳng có ý định nói cho nàng biết.
Hải Triều chăm chú đánh giá một lượt, quả nhiên thấy sắc mặt của ông ta thực sự không tốt, đôi môi cũng trắng bệch không chút màu.
Chẳng lẽ việc ông ta kết giao với đạo sĩ, dò la bí mật về Tây Châu đều là vì muốn chữa bệnh và cầu trường sinh sao?
Đang mải suy tính, Bùi Huyền đã đặt chén trà xuống: “Tại hạ có vài thứ đang nằm trong tay Vọng tiểu nương tử, mong cô nương trả vật về chủ cũ.”
Hải Triều đáp: “Đó là thứ Lâm Hạc Niên để lại, hắn ta bảo ta đi lấy, chứ chưa từng nói đây là đồ của ông.”
“Vọng tiểu nương tử sinh lòng hoài nghi cũng là lẽ thường tình.” Bùi Huyền gật đầu, “Bùi mỗ cũng không phải kẻ tuyệt tình không biết lý lẽ. Tiểu nương tử có điều kiện gì cứ việc nói ra, chỉ cần Bùi mỗ có thể làm được, tuyệt đối sẽ không từ chối.”
Hải Triều lạnh lùng nói: “Ta muốn làm Lương Dạ sống lại, ngươi làm được không?”
Nằm ngoài dự đoán, Bùi Huyền không lập tức trả lời, ông ta trầm ngâm một lát rồi nghiêm túc nói: “Người chết không thể sống lại, nhưng nếu Vọng tiểu nương tử muốn gặp lại cố nhân, có lẽ tại hạ có thể giúp chút sức mọn.”
Trực giác của Hải Triều lập tức thắt lại, nàng cố hết sức không để lộ ra ngoài mặt: “Ông điên rồi sao?”
Bùi Huyền nói: “Vọng tiểu nương tử đã từng đến Tây Châu, hẳn là đã tận mắt chứng kiến mọi chuyện kỳ dị ở đó, chắc cũng sẽ không cho rằng chuyện quỷ thần chỉ là lời vô căn cứ chứ.”
“Ông cũng biết đến Tây Châu sao?” Hải Triều hỏi, “Là nghe Lâm Hạc Niên nói?”
“Tại hạ cũng từng đến Tây Châu, còn trước cả Vọng tiểu nương tử nữa.” Bùi Huyền nhìn ra ngoài cửa sổ, nụ cười có chút cô quạnh, “Tính ra đến nay đã hơn hai mươi năm rồi.”
Dù Hải Triều từng suy đoán ông ta và Tây Châu có mối liên hệ nào đó, nhưng khi nghe chính miệng ông ta nói ra, nàng vẫn không khỏi giật mình.
Bùi Huyền tiếp tục: “Sau khi tại hạ trở về hồng trần, vẫn luôn tìm kiếm các truyền thuyết và ghi chép về Tây Châu, muốn mở lại lối đi dẫn đến nơi đó một lần nữa.”
“Mấy năm trước, người của ta phái đi cuối cùng cũng tìm thấy một vài mảnh lụa tơ tre ghi chép sót lại trong một ngôi mộ cổ ở vùng Thục, chỉ là chữ triện hình chim muông trên đó có nhiều chỗ khác biệt so với chữ lưu hành trên thế gian ngày nay.”
Hải Triều bừng tỉnh: “Cho nên ông mới tìm đến Lâm Hạc Niên… Nhưng phu nhân của hắn nói, cách đây không lâu hắn mới được quý nhân thưởng thức mà…”
Bùi Huyền nói: “Lâm Hạc Niên đã làm việc cho ta từ mười mấy năm trước rồi. Khi đó, ta ghi nhớ một số chữ tự trên sách lụa vào trong lòng, sau khi trở về lấy danh nghĩa dịch kinh để tìm đến hắn ta. Chỉ là chuyện này liên quan đến cơ mật, người nhà của hắn ta không biết chuyện.”
“Vậy việc hắn ở Quốc Tử Giám không được trọng dụng cũng là giả?” Hải Triều bỗng cảm thấy bản thân giống như đang rơi xuống biển sâu, một vòng xoáy khổng lồ dưới nước đang ra sức kéo tuột nàng xuống đáy.
“Hắn ta ở lại Quốc Tử Giám làm một chức Trực giảng u uất không đắc chí, đối với hắn hay đối với ta đều thuận tiện hơn. Hắn ta đã được nhìn thấy tiên cảnh rồi, thì một chức quan nửa chức tước ở hồng trần này có đáng là bao.”
Hải Triều lại không hề cảm thấy Tây Châu là tiên cảnh, hầu hết các bí cảnh ngoại trừ việc có yêu quái ra thì chẳng có mấy khác biệt so với thế giới thực tại.
Nhưng nhìn gương mặt trắng bệch bệnh tật của Bùi Huyền, nàng bỗng có một suy đoán: “Ông mắc bệnh nan y không sống được bao lâu nữa, nên tưởng rằng đến Tây Châu thì có thể trường sinh bất lão đúng không? Ông để tên yêu đạo Tiết Vinh giúp mình sát hại con cái nhà lưu dân, cũng là để làm thuốc kéo dài mạng sống đúng không?”
Có lẽ lúc này nàng nhận ra thì muộn mất rồi. Ánh mắt nàng nhìn chằm chằm vào thứ nước thuốc màu nâu còn sót lại dưới đáy bát sứ. Thứ thuốc đó ngửi có mùi tanh, chẳng lẽ…
Bùi Huyền bật cười, dường như còn bị sặc một cái, trên mặt hiện lên sắc hồng không bình thường, ông ta đưa tay che miệng khẽ ho một hồi rồi nói: “Sát hại những đứa trẻ đó không phải để làm thuốc, mà là để tế cửa.”
Ông ta nói về tội ác mình phạm phải bằng giọng điệu nhẹ bẫng, trong mắt không có lấy chút hối cải hay cắn rứt, mười mấy mạng người trong mắt ông ta chẳng khác nào lũ kiến hôi.
Hải Triều cảm thấy sống lưng lạnh toát, Trưởng công chúa gặp nàng còn biết sợ hãi, vậy mà kẻ trước mắt này đến cả trời đất thần Phật cũng chẳng có nửa phần kính sợ.
“Tại hạ không có chút hứng thú nào với việc trường sinh bất lão.” Bùi Huyền nói tiếp, “Đời người sống chưa đầy trăm năm, cớ gì cứ mãi ôm nỗi lo nghìn tuổi. Tại hạ có kiếp này là đủ rồi.”
“Vậy tại sao ông lại muốn quay về Tây Châu?” Hải Triều hỏi.
“Sao Vọng tiểu nương tử lại không hiểu chứ?” Bùi Huyền nhìn nàng với vẻ thất vọng, “Trong số tất cả mọi người, nương tử nên là người hiểu ta nhất mới phải.”
Ông ta ngưng một chút: “Lý do tại hạ muốn trở lại Tây Châu cũng giống hệt như cô nương vậy, là để trước khi kết thúc kiếp sống này, được gặp lại cố nhân một lần.”
Hải Triều chợt nhận ra “cố nhân” mà ông nói đến là ai, nhưng lại cảm thấy hoang đường đến nực cười.
“Vậy còn Lương Dạ?” Nàng ra sức kìm nén nhưng vẫn không ngăn nổi giọng nói đang run rẩy, “Là vì hắn lật lại vụ án cũ, ngáng đường ông sao?”
“Việc Lương Dạ vào Hình bộ, có thể nhìn thấy quyển cuộn hồ sơ vụ án đó đều là do ta ngầm cho phép.” Bùi Huyền bình thản giải thích, “Còn cả những chứng cứ phạm tội kia nữa, vụ án cũ từ nhiều năm trước, nếu ta có lòng muốn giấu thì manh mối đã sớm tiêu tan rồi. Nếu không phải ta cố tình đưa đến tận tay hắn, thì hắn đâu có dễ dàng tìm thấy như vậy?”
“Tại sao?” Hải Triều có nằm mơ cũng không thể ngờ hung thủ thực sự lại tự dâng lên chứng cứ phạm tội của chính mình.
“Thứ nhất, Lư Đạo Nhân và Quý phi thế lực quá thịnh, nếu Yến Vương đăng cơ có thể sẽ làm xáo trộn kế hoạch của ta; thứ hai, vụ án năm xưa có quá nhiều điểm nghi vấn, giữ lại sẽ là một mầm họa, Lư Đạo Nhân quả thực đã uống ‘tiên đan’ luyện từ máu thịt của những đứa trẻ đó, chỉ là lão không biết tên đạo sĩ thân tín của mình có mưu đồ riêng; thứ ba…” Ông ta nhìn Hải Triều bằng ánh mắt đầy thương hại, nhưng tận sâu trong đáy mắt lại là sự lạnh lùng thờ ơ, “Lương công tử có mệnh cách đặc biệt, không may lại chính là tế phẩm được cánh cửa lựa chọn. Mấy năm trước việc tế cửa thất bại là do không tìm được tế phẩm thích hợp, chỉ có thể dùng những đứa trẻ để lấp vào chỗ trống, kết quả vẫn cứ thất bại.”
“Ngươi ăn nói bừa bãi!” Hải Triều nghiến răng nói, “Chẳng lẽ cánh cửa kia biết mở miệng nói chuyện, tự tay bảo các ngươi nó cần người nào sao?”
Bùi Huyền chẳng mảy may động lòng trước cơn tức giận của nàng, bình tĩnh giải thích: “Cửa tuy không thể nói, nhưng Tiết Vinh lại có thể thông qua bói toán để cảm ứng với cửa.”
“Lời của hạng yêu đạo đó mà ngươi cũng tin sao?” Hải Triều không thể tin nổi nhìn nam nhân đang vô cùng điềm nhiên tự tại trước mắt, nghi ngờ ông đã hoàn toàn điên rồi.
“Ta tin.” Bùi Huyền nói, “Bởi vì đó là những gì chính mắt ta nhìn thấy.”
Ông ta dừng lại một chút: “Ta gặp Tiết Vinh ở Tây Châu. Ngày hôm đó, có tổng cộng sáu người vô tình lạc vào Tây Châu cùng ta, trải qua bảy mật cảnh, người sống sót chỉ có ba, Tiết Vinh là một trong số đó.”
“Tiết Vinh đang ở đâu? Có phải ông đã giấu lão đi rồi không? Ta muốn đối chất mặt đối mặt với lão.”
Bùi Huyền lắc đầu: “E là không được rồi. Gã đã bị ta g**t ch*t.”
“Tại sao?” Hải Triều không hiểu.
“Gã đã hết giá trị lợi dụng rồi.” Bùi Huyền nói một cách hiển nhiên như lẽ trời đất, “Hơn nữa gã còn phạm vào quy củ, kẻ này trong lòng có quá nhiều tâm tư riêng.”
Hải Triều đột nhiên nghẹn lời, người trước mắt này có một niềm tin thâm căn cố đế của riêng mình, có nói gì với ông ta cũng vô dụng.
Bùi Huyền chăm chú nhìn nàng một lát: “Bản văn thư trong tay Vọng tiểu nương tử là một phần mật văn trên thẻ tre, vốn dĩ thuộc về tại hạ, là do Lâm Hạc Niên lén giấu đi. Tiền căn hậu quả tại hạ đều đã bày tỏ rõ ràng, mong Vọng tiểu nương tử trả vật về chủ cũ.”
Hải Triều khẽ mí mắt: “Nếu ta không chịu thì sao?”
Bùi Huyền dịu giọng xuống, ra sức dụ dỗ: “Chuyện này đối với Vọng tiểu nương tử mà nói có trăm cái lợi mà không có một cái hại. Cánh cửa dẫn đến Tây Châu vừa mở, ngươi và ta đều có thể gặp lại cố nhân mà mình ngày đêm mong nhớ, chẳng phải vẹn cả đôi đường sao? Cửa đã có được tế phẩm nó muốn, chỉ thiếu bước cuối cùng này là thành công, chỉ cần nương tử trả lại phần văn thư còn lại, cánh cửa sẽ sớm được mở ra thôi.”
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, Hải Triều suýt chút nữa đã bị ông ta thuyết phục, nhưng nàng tỉnh táo lại ngay lập tức: “Ông chỉ nói cái lợi, chứ không nói đến cái giá phải trả. Cửa mở ra rồi có đóng lại được không? Nếu quái vật trong mật cảnh tràn sang bên này thì sẽ thế nào?”
Trong mắt Bùi Huyền lóe lên một tia hung ác: “Những chuyện đó thì có liên can gì đến ta và ngươi? Chẳng lẽ nương tử lại xem trọng những kẻ không liên quan kia hơn cả Lương Dạ sao?”
Giọng điệu của ông thất vọng, giống như vừa phát hiện ra đồng minh đã phản bội mình.
Hải Triều càng cảm thấy nực cười: “Ta vừa vặn có một người bạn hiểu chút ít về chữ triện hình chim muông, những thứ Lâm Hạc Niên để lại từ nửa năm trước ta đã bảo huynh ấy mang đi rồi. Mở cửa không hề nhẹ nhàng dễ dàng như ông nói đâu, cánh cửa đó nếu thực sự mở ra, nơi này không biết sẽ hứng chịu bao nhiêu tai ương, sẽ có bao nhiêu người phải bỏ mạng.”
Nàng dừng lại một chút, ánh mắt kiên định: “Cho nên câu trả lời của ta là: Không. Dù thế nào đi chăng nữa, ta cũng không giao thứ đó cho ông.”
“Dù cho có chết cũng không thể gặp lại Lương Dạ sao?” Mặt Bùi Huyền trầm xuống như nước, “Người lạc lối ở Tây Châu sẽ không được nhập vào luân hồi, đời đời kiếp kiếp ngươi sẽ không bao giờ gặp lại hắn nữa, ngay cả điều này ngươi cũng không bận tâm sao?”
Dù đã chuẩn bị tâm lý từ trước, nhưng từng chữ thốt ra từ miệng ông ta vẫn giống như những mũi độc tiễn, mũi nào mũi nấy cắm phập vào tim nàng.
“Phải, nếu phải biến thành một con quái vật không ra người không ra ngợm mới có thể gặp lại chàng, ta thà rằng đời đời kiếp kiếp chẳng bao giờ gặp lại.”
Bùi Huyền bật cười, nụ cười oán độc chẳng thèm che giấu: “Vọng Hải Triều, ngươi đúng là đồ cứng đầu cứng cổ, không biết điều.”
“Thì đã sao? Người chàng ấy thích, người chàng ấy nhung nhớ chính là một kẻ cứng đầu cứng cổ như ta, và điều chàng ấy không muốn nhìn thấy nhất chính là ta vì chàng ấy mà biến thành một kẻ khác.”
“Đúng là lũ ngu xuẩn, các ngươi thảy đều là lũ ngu xuẩn! Ngu xuẩn đến cùng cực…”
Ông ta dùng khăn tay bịt miệng ho khan kịch liệt, chiếc mặt nạ văn nhã lịch thiệp hoàn toàn bị xé toạc, ngũ quan thanh tú vặn vẹo vì oán hận và ghen tị.
“Ngươi tưởng ngươi có quyền lựa chọn sao?” Ông gằn giọng hỏi, ném chiếc khăn tay dính máu sang một bên.
Hải Triều theo bản năng đưa tay sờ xuống bên hông, nhưng lại sờ vào khoảng không, lúc này mới nhớ ra trước khi bước vào cửa nàng đã bị thị vệ tịch thu bội đao và lục soát mất dao găm.
Bùi Huyền cười giễu cợt, nhấc chiếc ấm mạ vàng lên, rót dòng rượu đỏ rực như hồng ngọc vào chiếc chén vàng, cầm lên lắc lắc: “Ta biết võ công của ngươi không tồi, có lẽ ngươi nghĩ có thể tay không đưa ta vào chỗ chết. Thế nhưng ngay sau tấm rèm sau lưng ngươi đang có cung tên chĩa thẳng vào đấy, chỉ cần ngươi nhúc nhích một cái, mũi tên sẽ bắn xuyên qua đầu ngươi ngay lập tức.”
“Huống chi, chỉ dựa vào một mình ngươi mà đòi địch lại trăm tên tử sĩ sao? Ở nơi này cũng chẳng có sông ngòi hồ ao nào cho ngươi độn thủy thoát thân đâu. Là uống chén rượu độc nát ruột này, hay là bị vạn tiễn xuyên tâm, bị loạn đao băm vằn, ngươi tự chọn lấy một đường đi.”
Chân mày Hải Triều không nhúc nhích một cái: “Hôm nay ta đã dám đến đây thì chưa từng nghĩ mình sẽ sống sót rời đi.”
“Ngươi quả thực gan lì không sợ chết, vậy còn người bạn kia của ngươi thì sao? Cả nhà Đỗ Văn Lương thì sao? Rồi hàng xóm láng giềng, đồng hương của ngươi nữa? Tất cả bọn họ đều sẽ vì ngươi mà chết.”
Ông ta rướn người về phía trước, đắc ý nhìn chằm chằm vào gương mặt nàng.
Thế nhưng Hải Triều lại không hề sợ hãi hay hoảng loạn như ông tưởng: “Sao ông biết cố nhân kia của ngươi đang ở Tây Châu? Là nghe Tiết Vinh nói sao?”
Bùi Huyền lạnh giọng: “Không mượn ngươi quản.”
Hải Triều biết mình đã đoán trúng: “Gã nói cố nhân của ông đang ở Tây Châu để dụ ông mở cửa đúng không? Tiếc cho ông trăm phương nghìn kế toán tính, cuối cùng lại bị người ta xoay như chong chóng!”
“Ngươi thì biết cái gì!” Bùi Huyền nghiêm giọng quát.
“Ta biết người ông muốn tìm không có ở Tây Châu.” Hải Triều bình thản nói, “Bà ấy đã không còn nữa rồi, mất từ mười ba năm trước, vì lâm bệnh mà đi.”
Sắc mặt Bùi Huyền dần dần thay đổi: “Ta không biết ngươi đang nói nhăng nói cuội cái gì.”
Hải Triều lấy từ trong ngực áo ra một cuộn vải chuối đã ép phèn, mở ra đặt trước mặt ông ta, đó là bài “Thiên Tự Văn” do chính tay Lương nương tử viết khi dạy nàng nhận mặt chữ năm xưa, cũng là di vật duy nhất bà để lại, khi đến Trường An nàng luôn mang theo bên người.
“Ông chắc là nhận ra nét chữ của bà ấy chứ?”
Bùi Huyền trố mắt nhìn trân trân vào nét chữ thanh tú uốn lượn trên tấm vải chuối đã ngả màu úa vàng, chậm rãi đưa tay ra, nhưng ngay khoảnh khắc đầu ngón tay sắp chạm vào thì lại rụt về.
Vành mắt ông ta đỏ hoe, ông ta quay mặt đi: “Đây không phải chữ của nàng, cầm đi, là các ngươi ngụy tạo…”
Hải Triều biết ông ta đã nhận ra nét chữ của Lương nương tử, chỉ là không muốn thừa nhận mà thôi: “Năm đó bà ấy vốn định đi thuyền ra hải ngoại, nhưng gặp phải phong ba trên biển Nam Hải, vừa vặn được cha ta cứu mạng. Khi ấy bà ấy đã mang thai được mấy tháng, không lâu sau thì sinh hạ một đứa trẻ. Được cha mẹ ta khuyên nhủ, bà ấy cùng đứa bé ở lại thôn chúng ta.”
Nàng dừng lại một chút: “Ta không biết tên thật của bà ấy là gì, bà ấy chỉ nói mình họ Lương, đứa trẻ đó cũng mang họ của nàng ấy.”
Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu của nam nhân đối: “Tên của huynh ấy là Lương Dạ.”
“Không thể nào, tuyệt đối không thể nào, ngươi đang nói dối!” Bùi Huyền né tránh ánh mắt của nàng, cười điên cuồng như một kẻ tâm thần, “Không ngờ ngươi có chuẩn bị mà đến, chuẩn bị sẵn cả một bộ lý lẽ thế này! Là ai dạy ngươi? Là Đỗ Văn Lương hay Lâm Hạc Niên? Hay là Trưởng công chúa? Phải, nhất định là ả ta! Năm đó chính ả ta đã thừa cơ ta vắng mặt để khích bác ly gián, chọc cho A Chỉ tức giận bỏ đi, là ả ta…”
“Ông vẫn chưa hiểu sao?” Hải Triều nói, “Lương nương tử đến chết vẫn hận ông, vì quá hận ông, ngay cả đứa con ruột thịt của mình bà ấy cũng không thể yêu thương nổi, chỉ bởi vì trên người hắn chảy dòng máu của ông.”
Giọng nói của nàng vang vọng trong căn phòng trống rỗng, và theo sau đó là sự im lặng đến tịch mịch.
Bùi Huyền đờ đẫn ngồi bất động không một biểu cảm, nếu không phải cả người đang run rẩy, trông ông ta chẳng khác nào một pho tượng gỗ cốt đất chịu phạt.
Không biết đã qua bao lâu, ông lẩm bẩm: “Ngươi gạt ta, nàng chưa chết, nàng đang ở Tây Châu đợi ta đến tìm, nàng chỉ là đang giận dỗi với ta thôi…”
Ông ta cứ lặp đi lặp lại thành lời hết lần này đến lần khác, như thể chỉ cần nói nhiều lần thì điều đó sẽ biến thành sự thật.
“Nếu ông không tin, có thể phái người đến Hợp Phố.” Hải Triều nói, “Mộ của bà ấy nằm ở dốc Khổ Nhi gần thôn. Nhưng ta khuyên ông đừng đến quấy rầy bà ấy, lúc sống bà ấy hận ông như vậy, chết rồi nhất định cũng không muốn gặp ông đâu. Cho dù bà ấy thực sự đã đến Tây Châu, cũng sẽ không gặp ông đâu, đời đời kiếp kiếp bà ấy đều không muốn nhìn thấy ông nữa.”
Bùi Huyền ngẩng đầu lên, trừng mắt nhìn nàng đến rách cả khóe mi, giống như một con thú hoang bị dồn vào đường cùng sắp sửa lồng lên vồ người.
Nhưng cũng không biết đã qua bao lâu, hai vai ông ta bỗng chốc sụp xuống, cứ như thứ chống đỡ bấy lâu nay đã hoàn toàn sụp đổ.
“Ngày sinh tháng đẻ của nó là khi nào?” Giọng ông ta khô khốc.
Hải Triều hơi khựng lại, ngay sau đó hiểu ra ông ta đang hỏi ngày sinh của Lương Dạ.
Nàng lưỡng lự một chút, cuối cùng vẫn đem bát tự ngày sinh của Lương Dạ nói cho ông biết.
Bùi Huyền im lặng thật lâu, đôi môi run rẩy như muốn khóc, nhưng đến cuối cùng lại co rúm thành một nụ cười vặn vẹo xấu xí.
Ông ta càng cười càng lớn tiếng, khóe mắt ứa ra những giọt lệ. Hải Triều lặng lẽ nhìn, suýt chút nữa đã tưởng ông ta phát điên rồi.
“Hóa ra là vậy, hóa ra là như vậy…” Bùi Huyền như thể đang lẩm bẩm tự nói với chính mình, “Chẳng trách cánh cửa lại muốn nó, nó muốn nó trở về…”
“Ý ông là gì?” Hải Triều hoang mang lại bất an.
Bùi Huyền dường như không còn nghe thấy cũng chẳng nhìn thấy nàng nữa. Biền biệt một hồi lâu ông ta mới nâng mắt nhìn nàng, gương mặt đã khôi phục lại vẻ bình lặng, nhưng đôi mắt ấy chẳng còn sót lại chút nào vẻ nắm chắc phần thắng như ban đầu, mà giống như một đống tro tàn đã tắt ngấm: “A Chỉ hoài thai nó ở Tây Châu, đêm cuối cùng của chúng ta ở Tây Châu… Đứa trẻ đó là con của Tây Châu.”
Nói đoạn, ông ta chẳng màng đến phản ứng của Hải Triều nữa, bưng chén rượu lên ngửa cổ uống cạn rượu độc bên trong.
Hải Triều trong trợn trừng hai mắt: “Ông…”
Trong mắt Bùi Huyền đột nhiên lóe lên một tia sáng rực, giống như đốm lửa tàn tro bỗng nhiên bùng cháy: “Nàng từng hứa với ta sẽ cùng ta bầu bạn suốt đời, đừng hòng bỏ rơi ta như thế! Ta phải đi tìm nàng để hỏi cho ra nhẽ…”
Ông ta đột ngột bịt miệng, lại là một trận ho khan kịch liệt, máu tươi không ngừng rỉ ra qua các kẽ ngón tay, cũng chẳng rõ là do bệnh tình đã nguy kịch đến vô phương cứu chữa hay là do tác dụng của chén rượu độc kia.
Ông ta gượng chút sức tàn chống đỡ đứng dậy, đi đến bên tường, từ trên giá bưng xuống một chiếc hộp gỗ dài chừng một thước đặt lên bàn thấp, nói với Hải Triều: “Bên trong này là những mảnh tre cổ sót lại tìm thấy trong mộ và bản dịch kinh, cộng thêm phần của Lâm Hạc Niên trong tay ngươi, ngươi sẽ có thể mở được cửa.”
Hải Triều nhìn thoáng qua chiếc hộp gỗ thì lập tức dời mắt đi.
Phản ứng của nàng lọt vào mắt Bùi Huyền không sót một chi tiết, ông ta vừa cười vừa ho, giọng nói trầm thấp giống như loài yêu ma đang mê hoặc lòng người: “Đến nhìn mà cũng không dám nhìn sao? Ta để lại nó cho ngươi tự mình định đoạt, vứt đi cũng được, đốt sạch cũng được.”
Ánh mắt giễu cợt vẫn găm chặt vào Hải Triều, giống như đã nắm chắc nàng nhất định sẽ không kìm lòng được: “Mang nó đi đi.”
Trong lúc trò chuyện ông ta lại nôn ra nhiều máu hơn, ban đầu còn dùng khăn lụa để lau, chẳng mấy chốc chiếc khăn đã bị máu thấm đẫm, ông ta liền mặc kệ, để mặc cho máu chảy xuống làm ướt sũng vạt áo.
Ông ta cất cao giọng gọi thị vệ đang đợi lệnh ở ngoài cửa bước vào.
Thị vệ vừa vào nhìn thấy vạt áo ông ta sũng máu đỏ tươi đến nhức mắt, lập tức kinh hãi, lập tức chĩa thẳng cung nỏ vào Hải Triều.
Bùi Huyền vô lực giơ tay lên phẩy phẩy: “Tiễn khách xuống núi, làm cho cô nương ấy một tờ giấy thông hành mới.”
Thị vệ nhận lệnh, chần chừ hỏi: “Tướng quân có cần mời y quan không ạ?”
“Không cần.” Bùi Huyền nói, “Đưa cô nương ấy ra ngoài, đóng cửa lại, bảo bọn họ cho dù có nghe thấy bất kỳ động tĩnh gì cũng không được vào, một canh giờ sau hãy vào trong thu dọn.”
Thị vệ dường như cảm nhận được điều gì, nhưng không dám nói nhiều, quay sang bảo Hải Triều: “Mời.”
Hải Triều đứng dậy, Bùi Huyền dùng ánh mắt ra hiệu: “Mang nó đi đi.”
Hải Triều lưỡng lự một lát, rồi ôm lấy chiếc hộp gỗ, bước ra ngoài theo chân thị vệ.
Mới đi ra chưa được bao xa, lại nghe thấy từ phía sau vang lên một tiếng “bịch” trầm đục, tựa như có vật nặng gì đó đổ sập xuống đất.
Bước chân của Hải Triều khựng lại một nhịp, trong lòng bỗng chốc trống rỗng.
Hung thủ hại chết Lương Dạ đến đây đều đã đền tội.
Thị vệ ngoái đầu nhìn lại một cái, ngay sau đó nghĩ đến điều gì, bèn trao lại thanh đao cho Hải Triều: “Sương mù sắp lên rồi, chúng ta phải đi nhanh lên thôi, sương lên rồi sẽ khó đi lắm.”
Hải Triều cúi đầu nhìn, sương mù quả thực đã bắt đầu giăng lối, quấn quýt lấy cỏ cây tàn héo cùng những tảng đá núi lởm chởm, dần dần nuốt chửng những bậc thềm đá dưới chân nàng.
Nàng treo đao trở lại bên hông, ôm chiếc hộp gỗ nặng trịch, rảo bước đi xuống núi.
Chưa có bình luận cho chương này.