Mùa hè năm ấy, bà Tư dưới chân núi mua một lá bùa Gà Đẻ Nhiều Trứng của Minh Tùng với giá hai đồng, và về nhà thấy mười hai con gà của bà đồng loạt không đẻ nữa, rồi bắt đầu đi lùi.
Bà không phàn nàn với Minh Tùng. Bà đi thẳng lên phân sảnh của Tông Môn Hội Đồng ở thị trấn Thạch Môn, nộp đơn kiện, đính kèm một con gà làm bằng chứng. Mười ngày sau, một người đàn ông tròn trịa, tuổi ngoài năm mươi, mặc áo xanh có thêu ba chữ Hội Đồng ở ngực, ôm trước ngực một cặp sổ dày bằng cái gối, bắt đầu leo ba nghìn bậc đá. Ông ta mất ba canh giờ, dừng nghỉ tám lần, và khi đứng ở cổng, mặt ông ta tím như quả cà.
“Triệu thư lại,” ông ta thở hổn hển, cúi chào Tuệ Nhi, người ra mở cổng đầu tiên. “Phụng mệnh kiểm tra nơi cư trú của người bán bùa không giấy phép.”
Minh Tùng, đứng sau Tuệ Nhi, tái mặt như tờ giấy bùa. Vân Thanh từ bếp bước ra, tay còn cầm muôi, nghe hai chữ “không giấy phép” mà thấy lạnh gáy.
Triệu thư lại ngồi xuống chiếc ghế gỗ Tuệ Nhi mang ra, tu một hơi hết ly trà gừng, rồi mở sổ. “Theo điều lệ Hội Đồng, bán bùa phải là thành viên của môn phái đã đăng ký. Cá nhân bán bùa bị phạt gấp ba lần doanh thu, tịch thu giấy và chu sa, trục xuất khỏi khu vực. Núi này…” Ông ta lật một trang. “Điêu Phong Sơn. Đất của một môn phái đã giải thể, nay thuộc quyền Hội Đồng quản lý. Tức là các vị đang ở chiếm.”
“Chúng tôi chỉ là ba người ở chung,” Vân Thanh nói.
“Ba người tu hành ở chung, trong đó có người dạy, có người học.” Triệu thư lại nhìn ông từ dưới hàng mày bạc. “Theo điều hai, gọi là tiểu phái.”
“Điều hai, khoản một,” Tuệ Nhi nói khẽ cùng lúc. “Nhóm từ ba người trở lên tu hành chung một nơi, có quan hệ truyền thụ, được coi là môn phái nhỏ.”
Triệu thư lại ngừng tay. Ông ta ngẩng lên nhìn thiếu niên đang đứng thẳng như cây cột. “Cậu thuộc quy chế?”
“Dạ, con từng chép sổ ở phòng sổ sách chợ Hạ Tuyết hai năm. Quy chế phụ lục họp chợ có trích dẫn nhiều điều của Hội Đồng.”
“Phụ lục họp chợ.” Triệu thư lại lẩm bẩm, nhìn Tuệ Nhi bằng ánh mắt của người đang tìm lại hy vọng trong đời. “Mười năm nay thư lại mới vào Hội Đồng chưa ai thuộc điều hai.”
Vân Thanh nhìn hai người trò chuyện bằng giọng của hai kẻ cùng một giáo phái. Ông thấy mình đang bị vây. “Nếu không đăng ký thì sao?”
“Thì Minh Tùng bị phạt và trục xuất. Hội Đồng sẽ cử người lên điều tra thường xuyên vì nghi ngờ các vị là tà phái ẩn náu.” Triệu thư lại lật sang trang khác. “Còn nếu đăng ký thì được bảo hộ theo điều mười.”
“Bảo hộ?”
“Môn phái đã đăng ký là pháp nhân hợp lệ. Muốn thăm, kiểm tra, hay đến gặp, phải báo trước bảy ngày qua Hội Đồng. Trong thời hạn bảy ngày, người đến mà gây hấn sẽ bị mất tư cách dự Hội Đồng ba năm và bị ghi vào hồ sơ.” Ông ta gõ gõ ngón tay lên trang giấy. “Kể cả đại phái.”
Vân Thanh im lặng.
Ông nghĩ đến hai người áo xanh bên cái cốc đen, tờ giấy xanh dán lên thân cây chết, câu nói “lần sau mang thêm người”. Bảy ngày báo trước. Một chiếc rào chắn bằng giấy, nhưng là rào chắn đầu tiên từng có thể đặt lên giữa ông và thế giới ngoài kia.
“Sổ đăng ký có công bố không?” ông hỏi.
“Không. Chỉ Hội Đồng giữ. Trừ khi môn phái cử đại diện dự kỳ khảo hạch hằng năm. Danh sách người đỗ được niêm yết kèm tên sư môn.”
“Chúng ta không dự khảo hạch.”
“Hoàn toàn tùy các vị.” Triệu thư lại nói, dù Tuệ Nhi đang nhìn ông ta bằng ánh mắt của người đang nghe tiếng nhạc.
Vân Thanh nhìn Tuệ Nhi. Cậu ta quay đi, vờ ngắm cây thông.
“Tên đứng đầu?” Triệu thư lại hỏi, bút chấm mực.
“Không cần chưởng môn.”
“Phải có người đứng đầu chịu trách nhiệm. Không có thì không đăng ký được.” Ông ta nghiêng đầu. “Hoặc đây là môn phái không có người nào chịu trách nhiệm cho đám đệ tử?”
Ông mở miệng, rồi nhắm lại. Ông thấy cái bẫy hợp pháp khép lại quanh mình, nhẹ như một tấm lưới, chắc như một bức tường. “Vân Thanh.”
“Họ?”
“Không có họ.”
“Quê?”
“Sơn dã,” Tuệ Nhi chen vào, rất nhanh. “Sư phụ con xuất thân sơn dã.”
Triệu thư lại viết, rồi dừng bút. “Vân Thanh. Tên này hay, nên trùng nhiều. Trong sổ Hội Đồng chắc có hàng chục người tên Vân Thanh.” Ông ta viết tiếp, không ngẩng đầu. “Điêu Phong Môn, tiểu phái, chưởng môn Vân Thanh. Đệ tử: Tuệ Nhi. Đệ tử: Minh Tùng.”
“Hắn là người thuê nhà!” Vân Thanh phản đối.
“Hội Đồng không có mục ‘người thuê nhà’. Chỉ có chưởng môn, trưởng lão, đệ tử, khách khanh. Khách khanh cần tu vi Kim Đan trở lên.” Triệu thư lại quay sang Minh Tùng. “Cậu có Kim Đan không?”
“Con có… con có hai cái hộp bùa ạ,” Minh Tùng nói.
“Đệ tử,” Triệu thư lại viết.
Vân Thanh quay đi, nhìn trời. Một con hoàng oanh vàng đậu trên cành thông xa xa, nghiêng đầu như đang xem một vở kịch.
Cuối buổi chiều, Triệu thư lại ký tên, đóng dấu đỏ vào ba bản đăng ký, một cho môn phái, một cho thị trấn, một cho Hội Đồng. Ông ta đứng dậy, ôm lấy lưng, nhìn ba nghìn bậc đá phía dưới mà thở dài như nhìn vào địa ngục. Rồi ông ta rút từ cặp sổ một cuốn sách bìa xanh dày như viên gạch và đặt vào tay Tuệ Nhi.
“Tông Môn Quy Chế. Bản dùng thừa của tôi. Cậu có thể đọc để biết quyền lợi của mình.”
Tuệ Nhi nhận cuốn sách bằng hai tay, nâng lên trước trán, như nhận bảo vật truyền gia.
Đêm đó, Vân Thanh đi qua hiên bếp và thấy ánh đèn dầu vẫn sáng. Tuệ Nhi ngồi một mình, cuốn quy chế mở rộng, môi mấp máy theo từng chữ. Ông đứng nhìn một lúc.
“Ngươi đọc cái gì mà say thế?”
“Điều mười hai ạ. Khách thăm hợp lệ được nghỉ chân tại cổng ba khắc trước khi vào.” Cậu không ngẩng đầu. “Điều hai mươi mốt. Điều bốn mươi ba.”
“Những chỗ vặt vãnh vậy, ngươi cần nhớ làm gì?”
Tuệ Nhi cuối cùng ngẩng đầu, ánh đèn phản vào mắt. “Sư phụ, chỗ vặt vãnh luôn là chỗ cứu mạng người ta ạ.”
Ông không đáp. Ông đứng ở bậc cửa một lúc, nghe tiếng giấy lật sột soạt, rồi quay đi ngủ, bụng nặng như vừa ăn một bữa cơm không hợp khẩu vị.
Chưa có bình luận cho chương này.