Nước sôi, bình trà đặt giữa bàn, và Vân Thanh kể.
Ông kể không theo thứ tự, vì ông chưa bao giờ nghĩ chuyện này sẽ có thứ tự. Ông nhìn chằm chằm cái bình trà mà nói, thỉnh thoảng nhấp một ngụm, như người đang đọc một bản báo cáo viết bằng chữ của chính mình.
“Ngày xưa ta không ở trên núi. Ta mở một lớp học nhỏ ở bờ sông Thanh Điền, dạy kiếm pháp và nhập môn cho vài đứa trẻ trong vùng. Trong số đó có một đứa tên Cố Trường Phong, mười ba tuổi.” Ông dừng lại. “Ngươi biết loại học trò nào là hiểm họa lớn nhất của người đi dạy không?”
“Đứa dốt?” Minh Tùng đoán.
“Đứa giỏi. Dốt thì ta dạy chậm lại. Giỏi thì ta dạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, vì câu hỏi tiếp theo của nó luôn có lý và ta không tìm được chỗ nào để nói thôi.” Ông liếc Thạch Đầu. “Giống như một người nào đó.”
Thằng bé gật đầu như được khen.
“Trường Phong học bảy chiêu một buổi sáng. Ba năm sau nó đã biết nhiều hơn các đệ tử phái nhỏ cả chục năm. Huyền Linh phái nghe tiếng, xin nó về làm khách khanh, rồi nhận hẳn làm đệ tử. Ta mừng.” Vân Thanh xoay chiếc chén trong tay. “Nhưng ta nhận ra một điều quá muộn. Ta chưa bao giờ dạy nó cách dừng lại.”
Hạo Phong, đang cắn bánh, ngừng nhai.
“Hai mươi năm sau, Huyền Linh phái bị thú triều đánh vào cửa núi. Trường Phong khi đó là trưởng lão trẻ nhất của họ. Nó dựng một đại trận hút linh mạch của ba thôn Tam Khê dưới chân núi để đưa vào hộ sơn trận. Dân Tam Khê sẽ yếu dần trong vài năm, mất nhiều thứ, nhưng thú triều không qua nổi, và hàng vạn người trong thành phía sau được yên.” Giọng ông không thay đổi. “Nó nói đó là lựa chọn của một người nghĩ đến lợi ích lớn hơn. Nó nói ta cũng sẽ làm thế nếu ta đủ can đảm.”
Tuệ Nhi không động đậy. Anh đang ngồi thẳng, hai tay đặt trên đầu gối, tự bao giờ đã thôi nhìn sư phụ mà nhìn vào mặt bàn.
“Ta đến, phá trận. Tam Khê là quê nhà của đứa trẻ nhỏ nhất mà ta dạy vào năm ấy.” Vân Thanh uống cạn chén. “Ta đứng trước cổng Huyền Linh, trước toàn thể trưởng lão, đặt một cái ấn khóa lên đan điền của Trường Phong để nó không thể dựng lại trận đó nữa. Họ gọi ta là kẻ phế bỏ truyền nhân của chưởng môn. Ta ra đi trong lúc cả cửa núi la hét. Từ đó ta là kẻ thù không đội trời chung của Huyền Linh phái.”
“Còn đứa nhỏ nhất ạ?” Thạch Đầu hỏi. “Đứa ở ba thôn ấy?”
Ông im một lúc, dài hơn mức cần.
“Tạ Văn. Nó sống sót qua mấy năm yếu bệnh ấy, rồi theo ta lên núi. Nó muốn làm anh hùng. Ta nghĩ nó khác Trường Phong, và ta đúng ở điểm ấy. Nó không bao giờ muốn hại ai.” Bàn tay ông đặt lên mặt bàn, các ngón hơi cong. “Ta dạy nó cuốn sách đen. Ta viết nó từ thuở còn trẻ, một kỹ thuật phá giới, bật mọi giới hạn trong một canh giờ. Mỗi bước kèm cảnh báo gấp đôi lời hướng dẫn, vì ta biết nó nguy hiểm. Ta nghĩ cảnh báo là đủ.”
“Tạ Văn đọc cảnh báo chưa?” Minh Tùng hỏi khẽ. Không còn tí đùa cợt nào trong giọng.
“Nó đọc hết. Nó vẫn đi. Ở Hắc Sương Cốc, nơi dư trận cũ của Trường Phong còn tụ ma khí, nó nghĩ mình xử lý được.” Vân Thanh không nhìn ai. “Sau đó ta lên đỉnh Hắc Sương Sơn, nơi từ cửa nhà có thể nhìn thấy đúng cái cốc đó, và ta không dạy ai nữa.”
Cả phòng lặng như tờ. Ngọn đèn dầu lách tách. Bên ngoài, gió thổi qua ngói.
“Cho nên,” ông kết luận, “lý do ta không muốn nhận đệ tử không có gì cao siêu. Một đứa vì ta dạy mà làm hại người khác. Một đứa vì ta dạy mà tự hại mình. Hai trên hai, ta không thấy lý do gì để thử lần thứ ba.”
Im lặng kéo dài. Rồi Hạo Phong, người hiền nhất, hít vào một hơi, đặt miếng bánh xuống đĩa.
“Sư phụ.”
“Gì?”
“Sư phụ đi rồi thì ai nấu cơm?”
Minh Tùng bật cười trước, tiếp đến là Tuệ Nhi, cuối cùng ngay cả Thạch Đầu cũng nhăn mặt cười theo mà không biết tại sao. Vân Thanh nhìn từng người, chân mày nhíu lại.
“Ta đang kể chuyện nghiêm trọng.”
“Dạ, con biết.” Hạo Phong đỏ mặt. “Con nghe hết rồi. Chỉ là con nghĩ, chuyện nghiêm trọng rồi thì cơm vẫn phải có. Sư phụ ngồi đó kể, con đứng dậy nấu thêm nồi cháo.”
Tuệ Nhi lau khóe mắt, nghiêm túc lại. “Sư phụ. Cho con hỏi một câu. Trong thư có viết, nguyên văn, xin tiên sinh đừng đi. Người từng bị sư phụ phong ấn ba mươi năm mà lại viết như vậy, sư phụ nghĩ họ đến để tính sổ, hay để cầu xin?”
“Ta không biết.” Vân Thanh nhìn ngọn đèn. “Hồi nó còn trẻ, ta cấm nó dựng trận, nó cũng cầu xin ta y một câu như thế. Rồi nó quay lưng, làm đúng điều ta đã cấm.”
“Vậy nên mình chuẩn bị cho cả hai,” Tuệ Nhi nói. “Cầu xin thì mình mời trà. Tính sổ thì mình có quy định của Hội Đồng.” Anh giơ phong thư lam. “Họ đã báo bảy ngày, cũng đã ký tên thừa nhận Điêu Phong là môn phái có đăng ký. Hội Đồng cấm gây hấn với môn phái đăng ký trong hạn bảy ngày. Hạn ấy còn sáu ngày.”
“Còn ta?” Vân Thanh hỏi. “Ta chạy thì sao?”
“Sư phụ chạy thì con báo cho Hội Đồng rằng người đứng đầu môn phái bỏ trốn khỏi cuộc thăm hợp lệ.” Tuệ Nhi mỉm cười, rất dịu. “Hội Đồng sẽ ghi vào hồ sơ.”
Vân Thanh quay sang Minh Tùng, tìm một đồng minh. Minh Tùng đang ngước nhìn xà nhà với vẻ rất chăm chú.
“Con bỏ phiếu ở lại,” cậu ta nói. “Con làm xong bùa mới hôm qua, sư phụ chưa xem. Nó biết đuổi chuột và biết đuổi cả người.”
“Con cũng ở lại,” Hạo Phong nói, tay đã cầm muôi.
Thạch Đầu giơ tay lên như trong lớp học. “Con ở lại. Con còn chưa thuộc hết bài đầu.”
Bốn người đã bỏ phiếu, kể cả Tuệ Nhi, người bỏ phiếu bằng nụ cười. Vân Thanh nhắm mắt, mở mắt, nhìn đứa nhỏ nhất.
“Bài đầu của con là gì?”
“Đứng đúng chân trái, sư phụ.” Thằng bé hơi đỏ mặt. “Con làm sai góc độ.”
“Ừ.” Ông đứng dậy, bước ra cửa nhìn trời. Rạng đông đã nhuộm sắc xám bên rìa Điêu Phong Sơn. “Hạo Phong sửa cổng. Minh Tùng cầm bùa của ngươi đi rải quanh sườn núi. Tuệ Nhi, đọc lại quy định Hội Đồng, đọc cả những điều khoản không ai thèm đọc.”
“Còn con?” Thạch Đầu hỏi.
Vân Thanh ngoái nhìn thằng bé.
“Con nấu cháo cùng Hạo Phong. Sáu ngày nữa sẽ có rất nhiều người đói leo lên núi.”
Chưa có bình luận cho chương này.