Vân Thanh quyết định không đợi khách tới cửa. Cửa nhà là chỗ duy nhất ông không muốn người ta biết có tồn tại.
Ông tắt lửa bếp, giấu thanh kiếm dưới ổ rơm, lấy một cái giỏ tre, một cái cuốc nhỏ, rồi đổ lên cổ áo một nhúm tro để nhìn cho ra dáng người đã sống cả đời với đất. Ông khom lưng lại một chút, đi tập tễnh một chân. Ba mươi năm không giao tiếp với ai không làm cho ông quên cách làm một ông già hèn mọn. Chỉ là hơi khó.
Hai tu sĩ áo xanh gặp ông ở khúc quanh thứ sáu của con đường mòn, ngay chỗ tảng đá hình đầu rùa. Người lớn tuổi đứng chắn đường, tay đặt hờ lên chuôi kiếm. Người trẻ cầm trên tay một chiếc la bàn nhỏ bằng đồng, kim chỉ run rẩy như đang bị ai đó giật dây.
“Lão trượng,” người lớn tuổi nói, giọng ôn hòa như người quen bắt chuyện với nông dân. “Lão ở đâu trên núi này?”
“Lão hái thuốc, hái thuốc thôi,” Vân Thanh nói, cố làm giọng run run. “Mỗi tháng lên một lần, hái rễ cây, bán xuống làng dưới. Hai vị đại nhân tìm gì ạ?”
“Tìm một vị ẩn cư. Có thể là người rất già, tu vi cao, sống một mình nhiều năm. Lão từng gặp ai như thế chưa?”
“Ôi, chỗ này làm gì có ai ở.” Ông đưa tay chỉ lên cao. “Trên kia là Hắc Sương Cốc. Hai vị đại nhân chưa nghe sao? Sương ở đó độc lắm, người vào mười người, mười người không ra. Chim còn không dám bay qua.”
Người trẻ liếc người lớn tuổi. “Sư huynh, kim la bàn chỉ lung tung từ lúc lên khỏi chân núi. Có thể chỗ đó có ma khí che mất.”
“Ma khí che hay có người cố tình che?” Người lớn tuổi nhìn Vân Thanh lâu hơn một nhịp. Hắn nhặt một hòn đá dưới chân, ném nhẹ vào ngực ông, kiểu của người muốn thử phản ứng của một thân thể bị che giấu. Vân Thanh nhìn hòn đá bay tới, nghĩ rất nhanh: nếu ông né, kẻ này sẽ đoán ra; nếu ông bắt, càng tệ. Nên ông cứ đứng yên.
Hòn đá đập vào xương ức ông một tiếng “bộp” khô khốc.
“Ái chà!” Ông ôm ngực, ngã ngồi xuống đường, cái giỏ tre đổ ra làm mấy rễ cây lăn tứ tung. “Đại nhân đánh lão! Lão có làm gì đâu!”
Người trẻ kêu lên: “Sư huynh, sao ông lại đánh dân thường!”
“Ta thử thôi.” Người lớn tuổi nhăn mặt, giọng bớt chắc chắn đi. Có lẽ hắn nghĩ không kẻ ẩn cư nào lại diễn dở đến thế. Vân Thanh, đang nằm dưới đất ôm ngực và rên hừ hừ, cũng đồng ý với điều đó. Ông đã diễn dở có chủ ý. Ông tự cảm thấy hơi tự hào.
“Lão trượng đứng dậy đi.” Người trẻ đỡ ông dậy, rút trong túi ra ba đồng tiền đồng đặt vào tay ông. “Xin lỗi, sư huynh tôi hay nóng. Lão có biết đường nào đi lên đỉnh không? Bọn tôi muốn nhìn xuống khắp vùng.”
Ông chỉ lên con đường dẫn đến mỏm đá phía bắc, nơi có thể nhìn thẳng xuống cái cốc. “Đi theo hướng này. Đừng rẽ trái, rẽ trái là sương độc.”
Họ cảm ơn rồi đi. Ông ngồi lại cạnh tảng đá hình đầu rùa, xoa ngực, chờ đến khi bước chân họ nhỏ dần rồi mới đứng lên, vứt cái dáng khom lưng như vứt cái áo ướt. Rồi ông tắt hơi thở, đi tắt theo sườn đá mà chỉ ông biết, vòng lên cao hơn họ một đoạn.
Hắc Sương Cốc nằm ở sườn bắc, một vết nứt đen ngòm xé vào lòng núi, quanh năm bốc lên thứ sương xám nhợt như hơi thở của người bệnh. Cây quanh miệng cốc chết trắng, cành khô xòe ra như bàn tay xương. Ông dựng nhà đối diện đúng chỗ này, sao cho mỗi sáng mở cửa là thấy nó. Ông chưa bao giờ nói với con hoàng oanh vì sao.
Ông ngồi sau tảng đá ở mỏm bắc, nhìn hai người áo xanh tới nơi. La bàn trong tay người trẻ nhảy loạn lên, kim xoay vòng điên cuồng. Người lớn tuổi nhìn xuống cái cốc, mặt tái đi.
“Ma khí nồng quá. Dư trận cũ?”
“Chắc là dư trận. Hoặc cả hai.” Người trẻ đưa tay che mũi. “Sư huynh, cái la bàn này không có ích gì ở đây. Cả quả núi bị cái cốc này làm nhiễu hết.”
“Phó… trên sơn môn dặn phải tìm ra.” Người lớn tuổi ngừng lời, như nhận ra mình suýt nói thừa. “Nhưng tìm ở chỗ này, ta cũng không nghĩ người nào ở nổi.”
“Ông già hái thuốc cũng nói thế.”
“Ừ.” Hắn lùi lại ra khỏi mép cốc, rút một tờ giấy xanh có vẽ phù văn từ trong tay áo và dán vào thân cây chết gần nhất. “Đánh dấu. Lần sau mang thêm người, mang la bàn khác, đừng đến lúc sương lên. Về thôi.”
Họ đi xuống. Ông đợi hơn một canh giờ mới ra khỏi chỗ nấp, đến gỡ tờ giấy xanh khỏi thân cây, đốt thành tro bằng ngón tay. Nhưng ông biết đốt một tờ giấy chẳng đổi được gì. Lần sau họ sẽ quay lại, đông hơn, và với một chiếc la bàn tốt hơn.
Chiều hôm ấy ông về nhà, rửa mặt, gỡ nhúm tro khỏi cổ áo, và ngồi trước bếp lạnh. Căn nhà yên tĩnh như ba mươi năm trước. Ông ngồi nhìn cái yên tĩnh ấy, và lần đầu tiên nhận ra nó có hình dạng của một chiếc áo cũ, vừa vặn, nhưng không còn ấm.
Ngày thứ nhất, ông không làm gì cả. Ngày thứ hai, ông nấu cơm, nấu nhiều gấp đôi, rồi tự mình ăn hết nửa nồi vì không nỡ đổ. Ngày thứ ba, ông ngồi bên cửa từ sáng, trên đầu gối đặt tờ bản đồ nhàu nát, và không thể giải thích với ai, kể cả chính mình, vì sao.
Sáng ngày thứ tư, khi ông đang xách thùng ra đổ nước vo gạo, có tiếng gõ cửa. Ba tiếng, đều đặn, cách nhau đúng một nhịp thở.
Ông đứng sau cánh cửa, tay vẫn cầm thùng, nghe nhịp tim mình đập nhanh hơn một chút mà ông không cho phép.
“Tiền bối,” giọng bên ngoài nói, hơi khàn vì gió núi. “Con đợi đủ ba ngày ở dưới rồi ạ. Con tính ngày thứ tư là hợp lệ.”
Chưa có bình luận cho chương này.