Vân Thanh mở cửa, nhìn thiếu niên ngoài hiên một lúc lâu và nói điều đầu tiên nghĩ ra được: “Ta bảo ngươi đừng quay lên.”
“Dạ. Nhưng tiền bối bảo chờ ba ngày, nếu ba ngày không xuống thì con tự lo.” Tuệ Nhi đặt túi xuống thềm, thở dốc. “Con đợi đủ ba ngày, ngày thứ ba tiền bối vẫn không xuống, nên con tự lo, và con tự lo bằng cách đi lên. Con không trái lời tiền bối.”
Ông mở miệng định cãi, nhưng cậu ta nói đúng từng chữ, và ông nhận ra mình vừa bị đánh bại bởi một người từng làm thư lại vặt.
Cậu ta đã nghe được tin dưới làng đông: hai người áo xanh đi qua hôm kia, hỏi chuyện chủ quán trọ, mua lương khô, rồi xuống đường lớn về phía nam. Trong ba ngày, cậu làm bài đầu mỗi sáng một trăm lần, đứng tư thế con cò trước sân quán, khiến cả quán trọ tin cậu là một đồ đệ ngốc nghếch của một thầy lang bị điên.
“Ta sẽ dọn đi,” ông nói khi cả hai đã ngồi trong nhà.
“Dạ?”
“Họ sẽ quay lại với nhiều người hơn. Ở đây không còn an toàn. Ta đã định để ngươi lại làng dưới, nhờ một nhà tử tế nuôi.”
Tuệ Nhi im lặng một lúc, rồi nhìn xuống bàn tay. Đầu ngón trỏ cậu ta hơi sáng lên, hạt gạo xanh nhạt chạy từ đan điền ra, rồi thu về, trơn tru. Cậu vừa làm bài đầu mà không hề nhận ra.
“Tiền bối còn giữ bản đồ của con,” cậu nói.
“Ta sẽ trả.”
“Con chưa nhận. Nghĩa là tiền bối chưa trả. Nghĩa là con vẫn còn việc ở đây.”
Ông nhìn trần nhà. Một người từng sống ba mươi năm không cần ai thuyết phục mình bây giờ ngồi đối diện một thiếu niên mười sáu tuổi, và chiến thắng lập luận bằng kỹ thuật pháp lý của một phòng sổ sách chợ.
“Ngươi biết chỗ nào có thể ẩn cư không?” Ông hỏi, giọng của người đang ngầm công nhận thất bại.
Mắt Tuệ Nhi sáng lên. “Điêu Phong Sơn ạ. Ở phía đông chợ Hạ Tuyết, cách đây bốn ngày đường. Trước kia có một môn phái nhỏ ở đó, tên cũng là Điêu Phong, nhưng bao năm nay tàn lụi, người cuối cùng chết rồi không ai nối. Sổ đất của chợ ghi núi ấy là đất không chủ, mà con từng chép sổ đó.” Cậu hạ giọng. “Dân làng sợ không dám leo, vì có ba nghìn bậc đá. Ba nghìn bậc, họ bảo người sống không leo nổi.”
“Ba nghìn bậc,” ông lặp lại, và thấy lòng mình dịu đi một chút. Ba nghìn bậc là loại rào chắn ông yêu thích.
Họ thu dọn suốt buổi chiều. Ông bảo Tuệ Nhi vào thư phòng, căn buồng nhỏ sau bếp xếp đầy sách, lấy xuống cuốn Cổ Thảo Lục bìa xanh đậm trên kệ thứ ba. Ánh sáng trong buồng yếu. Một lúc sau, cậu ta ra, ôm một cuốn sách bìa đen không đề tên, đưa cho ông bằng cả hai tay.
“Con lấy nhầm ạ. Không phải cuốn tiền bối bảo.”
Ông nhìn cuốn sách. Mặt ông không đổi sắc, nhưng bàn tay đưa ra nhận nó thì chậm hơn bình thường. “Ngươi lấy ở đâu?”
“Kệ trên cùng, góc tối bên trái. Con đứng lên ghế mới với tới. Bìa đen, con tưởng là xanh đậm.”
“Ngươi mở ra chưa?”
“Trang đầu thôi, rồi đóng.” Tuệ Nhi nhìn ông thẳng. “Mỗi bước có lời cảnh báo dài gấp đôi phần hướng dẫn. Con chưa từng thấy sách nào thế.”
“Sao không đọc tiếp?”
“Tiền bối cất nó chỗ cao nhất, góc tối nhất, tách khỏi những cuốn khác. Đồ cất riêng cố ý như vậy thì không phải cho người khác tự tiện đọc. Con chép sổ ở chợ hai năm, con biết hồ sơ nào là hồ sơ đóng dấu cấm.” Cậu cười gượng. “Với lại nó làm con sợ.”
Ông không đáp ngay. Ông xoay cuốn sách trong tay, ngón cái vuốt dọc gáy bìa. Lớp bìa đã mòn ở góc, như bị ai nắm nhiều lần.
“Có một người từng học kỹ thuật trong này từ ta,” ông nói cuối cùng. “Người đó không trở về.”
Tuệ Nhi không hỏi tiếp. Nhưng tối hôm ấy, khi cả hai ngồi ăn cơm không nói gì, cậu ở lại rửa bát lâu hơn thường lệ, lau từng cái chén một cách chậm rãi. Ông không bảo cậu đi ngủ.
Ông bọc cuốn sách vào vải dầu, nhét xuống đáy bọc hành lý. Ông không đốt nó. Ông không thể nói lý do với Tuệ Nhi, nên ông cũng không nói với chính mình.
Rạng sáng hôm sau, cánh cửa mười hai con hạc là thứ cuối cùng được lấy ra khỏi căn nhà.
“Tiền bối định mang cả cánh cửa?” Tuệ Nhi hỏi, nhìn ông tháo bản lề.
“Ta khắc nó.”
“Nhưng nhà thì để lại.”
“Nhà tranh thì ở đâu cũng dựng được. Cánh cửa này mất ta mười ngày.” Ông buộc nó lên lưng thiếu niên bằng ba vòng dây. “Ngươi mang. Coi như tập sức.”
Tuệ Nhi đi hết khúc quanh đầu tiên với cánh cửa trên lưng, trông như một con rùa mặc áo giáp. Ông đi sau, vác bọc hành lý, hai tay trống không như người không mang theo thứ gì quan trọng. Đến tảng đá hình đầu rùa, ông dừng lại.
Phía bắc, sau lớp sương xám, Hắc Sương Cốc nằm yên như một vết thương chưa đóng. Ông nhìn nó rất lâu. Gió từ phía đó thổi lên lạnh, mang theo mùi đất ẩm và thứ gì đó giống như tro.
“Tiền bối hay nhìn chỗ đó,” Tuệ Nhi nói khẽ.
“Ừ.”
“Có gì ở đó ạ?”
“Một người ta từng quen.” Ông quay đi. “Ba mươi năm nay ta chưa lần nào bước xuống đó.”
Họ đi tiếp. Ông ngoái nhìn lần cuối ngôi nhà tranh với ống khói nghiêng về phía đông, cây thông và cành thông nơi con hoàng oanh vàng đậu.
Con chim không bay theo. Nó đứng im trên cành, nghiêng đầu nhìn theo họ cho đến khi họ khuất. Ông nghĩ nó già rồi, không muốn dọn nhà, và bước xuống núi với cảm giác bị bỏ rơi khó chịu mà ông sẽ không nhận với ai.
Chưa có bình luận cho chương này.