Ngày 36:
Chiếc xe bán tải màu trắng vào bản lúc mười giờ sáng, bụi đỏ cuộn thành đám dài sau bánh. Bên hông cửa xe in một dòng chữ xanh: Khammouan Trails. Lũ trẻ chạy ra đầu đường như ngày chúng tôi đến, nhưng lần này chúng không đứng im. Chúng chạy thẳng về phía nhà Khamla.
Người bước xuống đầu tiên là một người đàn ông ngoài bốn mươi, mặc sơ mi trắng sạch đến mức trông phi thực giữa bản, đeo kính râm và một chiếc đồng hồ lớn. Ông cúi đầu chào Bounmy, chào theo kiểu của người biết cách chào.
“Vilay Keomany, giám đốc công ty du lịch. Rất vinh dự.” Ông nói tiếng Anh lưu loát. Rồi ông đưa tôi một phong bì có đóng dấu của huyện. “Đây là giấy phép khảo sát tiền khả thi cho tuyến tham quan hang Tham Siang. Chúng tôi chỉ đến để làm việc cùng làng.”
Tôi chưa từng nghe cái tên đó. Khamla, đứng cạnh tôi, thì thầm: “Tham Siang. Hang Tiếng. Đó là tên làng gọi. Đoạn ghi âm đã đem nó lên mạng.”
Sau lưng Vilay, hai người nữa bước xuống. Một người đàn ông cao gầy, khoảng ba mươi, mặc áo gi lê có mười một cái túi và đội mũ vải rộng vành; trên cổ treo ba chiếc máy ảnh nhỏ. Anh cười toe toét với tất cả mọi người, kể cả con chó già nằm dưới gầm nhà. Người còn lại là một cô gái trẻ hơn, tóc cắt ngắn, kéo theo một chiếc va-li nhựa cứng, trên vai đeo ba lô đựng đầy sổ ghi chép bọc nilon chống nước.
“Tiến sĩ Yuna Park!” Người đàn ông cao gầy bắt tay tôi bằng cả hai tay, lắc mạnh. “Narong Chaiyo. Tôi chỉ là nhà thám hiểm nghiệp dư thôi. Chị đừng sợ, tôi biết mình nghiệp dư, nên lúc nào cũng mang theo trợ lý.” Anh quay sang cô gái. “Đây là Ploy. Ploy nhớ giùm tôi mọi thứ.”
“Mọi thứ tôi cố nhớ,” cô gái nói, nghiêm trang, bắt tay tôi một lần, nhẹ.
Narong nói rất nhiều, rất nhanh. Qua mười phút, tôi biết được anh từng làm nhân viên bảo hiểm cho đến năm hai mươi tám tuổi, rồi bỏ nghề để đi thăm những đền đài bị bỏ hoang trong rừng Thái Lan và Campuchia, kể cả những nơi bản đồ ghi là “chưa xác minh”. Anh có chừng bốn mươi chuyến đi và một kênh video với lượng người xem lớn hơn cả số người tôi từng gặp trong đời. Anh say mê tiếng gõ trong hang đến mức nghe bản ghi âm “chắc năm mươi lần”.
Anh liếc thấy Sato đang đứng sau lưng tôi, và đôi mắt anh sáng lên.
“Chính anh là người đăng đoạn đầu tiên đúng không? Tên anh ghi ở góc mọi bản đăng lại! Chỉ ánh sáng như thế mới làm cho những bàn tay đó sống dậy.”
Sato đứng im, như một người chưa hiểu nổi lời khen đang dẫn tới đâu. “Tôi đã gỡ nó,” anh nói. “Tôi sai.”
“Sai à?” Narong chớp mắt. “Nhưng nhờ vậy mới có người biết hang này tồn tại.”
“Nhờ vậy mà hai sinh viên mất hai ngày trong rừng,” Khamla nói, bằng tiếng Anh, rất nhẹ.
Narong dừng nụ cười. Anh quay lại, thấy ánh mắt cô, và tôi quan sát từng thay đổi trên mặt anh: bất ngờ, ngượng, rồi một nỗi gì đó tôi chưa đọc được.
“Tôi không biết chuyện đó.”
“Bây giờ anh biết rồi,” cô nói.
Vilay bước vào giữa, vẻ dễ chịu của ông không hề suy chuyển. “Cô giáo Khamla, đó chính là lý do chúng tôi đến. Nếu có một tuyến chính thức, có người hướng dẫn, có an toàn, những chuyện như vậy sẽ không xảy ra. Làng sẽ có thu nhập. Trường sẽ có mái mới.”
Mái trường làng đúng là đang dột. Tôi đã thấy những cái thau hứng nước đặt dưới dãy xà gỗ trong phòng học khi đi ngang qua. Khamla không đáp. Bàn tay cô siết lấy một mép áo.
“Giấy phép của ông có gì?” tôi hỏi.
Ông lấy từ phong bì ra một tờ giấy đã đóng dấu. “Khảo sát khu vực cửa hang và tầng một. Không động chạm vào hiện vật. Thời hạn mười ngày.”
“Giấy phép nghiên cứu của tôi cũng còn chín ngày,” tôi nói. “Cho toàn hang.”
“Vậy là hai giấy cùng hợp lệ, thưa tiến sĩ.” Vilay mỉm cười, và nụ cười ấy tử tế đến mức khó mà ghét. “Tôi nghĩ ta có thể làm việc song song.”
Bounmy, đứng dưới gốc xoài suốt từ đầu, mới lên tiếng. Ông nói bằng tiếng Lào, dứt khoát, và Khamla dịch chậm rãi:
“Ông ngoại nói: chuyện của hang phải hỏi làng. Mai làng họp ở nhà chung. Ông Vilay đến nói. Anh Narong đến nghe.”
Vilay hơi nghiêng đầu. Không ai nhìn thấy gì sau cặp kính râm ấy. “Tôi sẽ đến.”
Khi mọi người đã xuống xe, Narong tháo từ thùng sau xuống một chiếc loa nhựa bọc cao su, to bằng quả dưa hấu. “Tôi định mở một bài nhạc chào hang,” anh nói, giọng hào hứng như một đứa trẻ khoe đồ chơi. “Nghe nói nó biết đáp…”
Khamla quay phắt lại. Ploy bước tới, rất nhanh, giơ tay ra, và Narong, sau một thoáng, đặt chiếc loa vào tay cô.
“Anh hứa với tôi rồi,” cô nói khẽ.
“Anh chỉ định…”
“Anh hứa rồi.”
Cô ôm chiếc loa vào ngực như ôm một con vật không phải của mình, rồi đi thẳng về phía xe, khóa nó vào thùng đựng đồ.
Chiều đó, tôi tìm Ploy ở bờ suối sau làng, nơi cô đang giặt khăn tay. Cô nhận ra tôi từ xa và không nói trước.
“Anh ấy không xấu,” cô nói, khi tôi ngồi xuống bên cạnh. “Anh ấy chỉ không biết dừng. Cái gì mới lạ cũng muốn bước vào ngay, quên hỏi ai sẽ bị giẫm lên.”
“Cô làm trợ lý của anh ấy bao lâu rồi?”
“Ba năm.” Cô vắt chiếc khăn, nước nhỏ giọt xuống đá. “Tôi học ngành địa lý, định làm khảo sát địa hình. Rồi gặp anh ấy. Công việc của tôi là nhớ những điều anh ấy quên.” Cô liếc tôi. “Tiến sĩ có cần tôi nhớ điều gì không?”
“Rằng cái hang không phải sân khấu,” tôi nói.
Cô gật chậm. “Tôi nhớ rồi.”
Tôi trở về nhà sàn khi mặt trời xuống sau núi. Từ hiên, tôi thấy Vilay đứng ở đầu bản, nói chuyện điện thoại, lưng quay về phía chúng tôi, giọng thấp đến mức không nghe được lời nào. Ông gật đầu nhiều lần. Một lần ông nhìn lên sườn núi, nơi cửa hang nằm, và tôi nhận ra ánh mắt ông đo đạc, giống như một người thợ nhìn tấm gỗ trước khi cưa.
Chưa có bình luận cho chương này.