Ngày 52:
Phòng họp của huyện nằm ở tầng hai một tòa nhà vàng nhạt có chiếc quạt trần kêu mỗi lần quay quá nửa vòng. Bàn dài trải khăn xanh, hai bên là ghế gỗ, và trên tường đối diện cửa treo ảnh một vị lãnh đạo mà tôi không biết tên. Tôi ngồi cạnh Marcos. Đối diện chúng tôi, Ploy chống nạng ngồi bên Narong, cổ chân bó bột trắng. Bounmy ngồi ở đầu bàn phía chúng tôi, lưng thẳng, mặc chiếc sơ mi trắng cả làng góp tiền may, hai xương sườn đã được băng chặt dưới lớp áo. Khamla ngồi cạnh ông, rồi tới bà Vanh, trưởng bản và Somphone; cả năm người đều cầm dép trên tay, vì không ai đành để dép lên sàn nhà ấy.
Bà Sengphet từ Thakhek tới từ sáng. Bà bắt tay tôi lâu hơn lệ thường và nói khẽ: “Tôi đã hứa cố, và tôi không giữ được. Hôm nay tôi sẽ giữ.”
Phía bên kia, ông Vilay ngồi một mình với một người đàn ông mặc vest, có lẽ là luật sư. Ông không đeo kính râm. Quầng mắt thâm, ria mép chưa cạo, và tôi nhận ra trong lòng mình không có chút thỏa mãn nào, chỉ là sự mệt mỏi.
Ông Khampheng mở lời, giọng hơi run. Ông tóm tắt: ngày 43, công ty Khammouan Trails tiến hành nổ mìn tại sườn đồi phía trên cửa hang, theo giấy phép san lấp bãi đỗ xe. Vụ nổ làm sập ba đoạn hành lang ở tầng một đến tầng ba. Cùng thời điểm, trong hang có sáu người không nằm trong kế hoạch của công ty. Tất cả được cứu thoát.
“Tôi muốn nêu rõ,” luật sư của Vilay đứng dậy, “rằng thân chủ tôi không biết có người trong hang vào thời điểm đó. Nhân viên thực hiện đúng giấy phép. Mọi hệ quả là rủi ro ngoài ý muốn.”
“Tôi có một thứ muốn đưa ra,” Narong nói.
Anh đứng dậy, chậm, một tay vẫn quấn băng. Ploy lấy từ ba lô một xấp giấy đã in, gấp làm tư. Anh đặt nó lên bàn.
“Đây là tin nhắn ông Vilay gửi tôi ngày 41. Trong đó ông nói tiến sĩ Park đã phát hiện một phòng chưa ai biết. Ông bảo tôi mang loa vào Khoang Vòm, phát nhạc, quay đoạn hang đáp, trong mười phút. Ông hứa sẽ trả thêm phần tài trợ.” Anh nuốt khan. “Ông không bảo tôi đi vào lúc có mìn. Nhưng ông biết tôi đi vào hang. Và ông biết hôm đó đội ông có kế hoạch nổ.”
Phòng họp lặng đến mức tôi nghe tiếng quạt. Vilay không nhìn xấp giấy. Ông nhìn Narong.
“Anh có thể chọn im lặng,” ông nói bằng tiếng Anh, rất khẽ. “Anh vẫn còn hợp đồng với tôi.”
“Tôi có thể,” Narong nói. “Nhưng tôi đã ngồi ba tiếng trong bóng tối đập vào đá bằng tay trần, và không ai nghe thấy tôi cho đến khi người ta đang dốc sức đào cái hang mà chúng tôi vừa phá. Tôi không làm lại được.” Anh nhìn quanh phòng, nhìn bà Vanh, nhìn Khamla. “Sai lầm đầu tiên là của tôi. Tôi đã mang loa vào hang. Tôi chấp nhận mọi hậu quả. Và tôi sẽ xóa các video về hang này khỏi kênh của tôi, kèm một lời xin lỗi công khai.”
Ông Khampheng cúi xuống nhìn xấp giấy, và lần đầu tiên từ khi tôi biết ông, ông không gật đầu. Ông đọc từng dòng rất lâu. Rồi ông đặt nó xuống, hai tay chống lên mặt bàn.
“Ông Vilay,” ông nói, “tôi đã ký giấy phép san lấp bãi đỗ xe. Tôi chưa ký giấy phép nổ mìn cạnh một hang động đang có người trong đó.” Giọng ông chậm lại. “Tôi gật đầu ở nhà chung quá nhiều. Tôi sai.”
Vilay nhắm mắt.
Khamla được mời trình bày thứ tự sự việc trong ngày 43: người trong bản nhận tin ra sao, cửa hang bị đá lấp thế nào, bà Vanh dẫn đường cho đoàn cứu hộ đi vòng ra sao. Cô nói tiếng Anh bình tĩnh, rồi tiếng Lào, và khi cô dịch lại phần của mình cho cả phòng, giọng cô không hề run. Tôi nhận ra cô đã chuẩn bị bài này suốt cả tuần, giống như một giáo viên chuẩn bị một bài giảng quan trọng nhất đời.
Rồi đến phần của tôi. Tôi mô tả những gì mình thấy: các hành lang bị sập, tình trạng hệ thống nước ngầm, mối nguy cho người bên trong. Tôi không nói về tiếng gõ trả lời, về Phòng Đàn Đá hay Phòng Cuối. Marcos đã giữ lại dữ liệu ghi âm, nhưng chúng tôi đã thỏa thuận với Bounmy rằng không đưa nó vào bất kỳ tài liệu nào. Có những điều đúng là sự thật mà vẫn không phải của chúng tôi để kể.
Khi tôi nói xong, bà Sengphet giơ tay xin phát biểu.
“Phòng Di sản xin rút khỏi sổ đăng ký các tọa độ của khúc hang có dấu tay cổ ở tầng ba,” bà nói, và tôi thấy tay bà đang cầm một chiếc chìa khóa nhỏ. “Phụ lục niêm phong của tiến sĩ Park sẽ được trả lại cho bà, không giữ bản sao. Hang Tham Siang sẽ chỉ còn ghi danh trong hồ sơ dưới dạng khu vực cộng đồng bảo tồn, không kèm vị trí chi tiết.”
Bà đặt chiếc chìa khóa lên khăn bàn và đẩy nó sang phía tôi.
Cuối cùng, ông Khampheng quay sang Bounmy. “Cụ Bounmy, cụ muốn nói điều gì không?”
Bounmy nhìn Khamla, rồi bà Vanh. Cô dịch từng câu của ông, chậm rãi.
“Tôi không muốn ai bị phạt nặng. Người phạt xong là người đi. Mà người đi rồi thì không biết gõ.” Ông nhìn Vilay thẳng, lần đầu. “Ông Vilay. Công ty ông có hai mươi người thợ. Hãy bảo họ lên núi. Không máy. Dùng tay, đá của chính núi, dựng lại cửa hang cho làng. Từng hòn một. Thầy hướng dẫn là người trong bản. Ông cũng lên, cùng thợ của ông.”
“Ông muốn tôi… xây lại?” Vilay hỏi, không tin.
“Làm bằng tay. Hang sẽ nghe.” Ông ngừng, lấy hơi, vì xương sườn còn đau. “Và lợp lại mái trường. Phần tiền ấy ông hứa trong buổi họp. Tôi nhớ.”
Vilay nhìn bàn tay ông già, những khớp ngón sần sùi. Rồi ông quay sang luật sư, nói một câu rất ngắn bằng tiếng Lào, và luật sư ngồi xuống, ngạc nhiên.
“Tôi đồng ý,” Vilay nói.
Quyết định được đọc lúc quá trưa: giấy phép của công ty bị thu hồi; công ty chịu toàn bộ chi phí khắc phục; cửa hang cùng các hành lang đã sập sẽ được phục hồi theo cách làng quyết định; vùng núi quanh bản Na Tham là khu thí điểm bảo tồn do cộng đồng quản lý, mọi hoạt động tham quan phải được làng đồng ý.
Khi mọi người đứng dậy, Ploy kéo tay tôi lại. “Tiến sĩ,” cô nói khẽ. “Hôm ở bờ suối, tôi hỏi chị có cần tôi nhớ điều gì không. Chị nói: rằng cái hang không phải sân khấu.”
“Tôi nhớ.”
“Hôm nay tôi nhớ thêm một điều.” Cô nhìn Narong đang đứng nói chuyện với Somphone, đầu cúi thấp, hai tay buông thõng. “Anh ấy cần một người bên cạnh khi sửa sai. Tôi sẽ ở đó.”
Chưa có bình luận cho chương này.