Ngày 34:
Đường nhựa chấm dứt ở một ngã tư không biển, sau đó là hai ngày đường đỏ. Chiếc xe tải chúng tôi thuê chở theo hai mươi thùng thiết bị, ba bao gạo mang làm quà, và bốn người ngồi chen ở thùng sau trên những tấm bạt gấp. Marcos ngủ gục từ giờ đầu tiên với chiếc mũ rơm che mặt. Sato ôm hộp máy ảnh như ôm một đứa trẻ, nhưng suốt chặng đường không lần nào mở nó ra. Tôi đọc lại ghi chép về nhịp gõ, và mỗi lần xe nảy qua ổ gà thì những dòng chữ lại nhòe đi.
Hai bên đường, rừng tre lùi dần nhường chỗ cho những sườn núi đá vôi mọc lên như răng cưa, phủ dây leo xanh sẫm. Không khí đổi mùi: ẩm hơn, đậm hơn, mang theo hơi lạnh của thứ gì đó cũ kỹ ở phía trước.
Chúng tôi đến bản Na Tham khi mặt trời xuống thấp. Đó là một cụm chừng ba chục nhà sàn dựa lưng vào chân núi, mái lợp ngói và cỏ, dưới gầm nhà có gà, có bếp củi, có những chiếc nia phơi ớt đỏ. Khói bếp bay lên thẳng trong buổi chiều không gió. Trẻ con chạy ra đầu đường, đứng nhìn chiếc xe lạ, tay giữ nhau.
Dưới gốc một cây xoài lớn, Bounmy đứng chờ. Ông trông gầy hơn lần cuối chúng tôi gặp, hoặc là tôi nhớ nhầm. Tóc bạc cắt ngắn, chiếc khăn kẻ sờn quấn quanh cổ. Tôi nhảy khỏi xe, bước tới, và cúi đầu sâu hơn bất cứ lời chào nào tôi từng dùng với ông.
“Bounmy,” tôi nói.
Ông nhìn tôi, nhìn ba người còn lại, nhìn lâu nhất vào Sato. Rồi ông nói bằng thứ tiếng Anh đơn giản, từng chữ đặt xuống như đặt viên đá:
“Ăn trước. Nói sau.”
Bữa cơm bày trên chiếu ở hiên nhà sàn lớn nhất làng: xôi nếp đựng trong giỏ tre, cá nướng gói lá, một bát tương ớt cay đến chảy nước mắt. Khamla ngồi xếp bằng cạnh ông, trạc ba mươi tuổi, tóc buộc đuôi ngựa, nhìn chúng tôi bằng ánh mắt của người đã chờ rất lâu để nhìn thẳng. Cô là giáo viên của chiếc trường duy nhất trong bản, hai phòng học và một cây cột cờ nghiêng. Cô dịch cho cả hai phía, nói chậm và rất đúng, và không bỏ sót một chữ nào, kể cả những chữ khó nghe.
Không ai nhắc đến đoạn ghi âm. Họ nói chuyện về đường xá, về giá gạo, về cậu bé con nhà hàng xóm vừa lành chân gãy. Marcos làm cả bàn cười khi kể chuyện con dơi sa vào mũ. Tôi ăn xôi bằng tay, cố làm cho đúng cách, và nhận ra mọi người trong bản âm thầm theo dõi để xem tôi có chịu học không.
Khi bát cuối cùng đã dọn, Sato đặt hai tay lên đầu gối và nói, không chờ ai hỏi:
“Người đăng đoạn ghi âm lên mạng là tôi.”
Khamla dịch. Giọng cô không đổi, nhưng nhịp dịch chậm đi một chút. Bounmy nghe, không động đậy. Sato nói tiếp, rằng anh đã gỡ nó xuống nhưng nó đã đi mất; rằng anh xin lỗi; rằng anh không mong được tha thứ, chỉ muốn nói trước mặt ông. Khi anh dừng, trên hiên chỉ còn tiếng củi nổ trong bếp.
“Tôi biết,” Bounmy nói. “Cháu tôi đã cho tôi xem trong cái điện thoại.” Ông gõ nhẹ ngón tay lên mặt chiếu. “Mấy chục năm không ai đứng ngoài cửa hang gõ cả đêm. Bây giờ ban đêm có tiếng gõ từ ngoài đường tới.”
“Chúng tôi sẽ tìm cách,” tôi nói.
“Chị đã có cách chưa?”
Tôi thành thật. “Chưa.”
Ông gật, như ông vẫn gật mỗi khi tôi nói một điều đúng. Rồi ông quay sang Sato. “Anh còn máy ảnh?”
“Còn, thưa ông.”
“Sáng mai anh đi với tôi. Không mang máy ảnh.”
Sato cúi đầu. Đó là lần đầu tôi thấy anh để mặc một yêu cầu mà không hỏi lý do.
Phòng dành cho khách là một gian trên gác, trải bốn chiếc chiếu và hai tấm màn. Marcos ngáy ngay khi chạm gối. Tôi nằm nhìn mái cỏ, nghe tiếng côn trùng ran lên từ bụi chuối, và chắc chắn đã ngủ được một lúc, vì khi tỉnh dậy thì bên ngoài đã tối đen.
Một tiếng động đã đánh thức tôi. Từ phía sườn núi, nơi cái bóng đen của vách đá nuốt một mảng trời, vọng xuống những tiếng gõ.
Không phải ba tiếng, nghỉ, ba tiếng. Chúng dồn dập, rồi đứt, rồi lại bật ra không có thứ tự nào. Hai tiếng. Năm tiếng. Một tiếng lẻ loi, như tiếng người gõ cửa nhà không có ai. Có lúc một chuỗi mau liên tiếp, gần như điên cuồng, rồi ngừng bặt hàng phút.
Tôi bước ra hiên. Khamla đã đứng đó, hai tay khoanh trước ngực, nhìn lên núi.
“Ba đêm rồi,” cô nói. “Nó không gõ thế này trước đây.”
Từ dưới gầm nhà, tôi nghe tiếng chân. Đàn ông trong bản đang đi lên núi, không hô hoán, chỉ cầm đèn dầu và gậy, đi thành một hàng im lặng dọc theo con đường mòn. Ánh sáng đung đưa nhỏ dần trên sườn dốc như một chuỗi hạt vàng. Tôi định chạy theo. Bounmy, từ đâu đó trong bóng tối, đặt bàn tay lên vai tôi mà không nói gì, và tôi đứng lại.
Họ quay về gần sáng. Giữa họ là hai thanh niên chừng hai mươi, mặc áo gió đắt tiền dính bùn từ đầu đến chân, ba lô quá khổ đeo lệch trên vai. Một người gầy cao, tóc rối. Người kia thấp hơn, tay quấn khăn quanh một vết xước rỉ máu. Cả hai run lên vì lạnh, hoặc vì sợ, hoặc vì cả hai.
Khamla pha trà gừng, đặt vào tay từng người. Không ai la mắng.
“Các bạn đến từ đâu? Ai chỉ đường?” cô hỏi bằng tiếng Anh chậm rãi.
“Chúng tôi xem trên mạng,” anh chàng gầy cao lầm bầm. “Họ nói hang này… đáp lại. Chúng tôi chỉ muốn nghe thử.”
“Nghe thử,” cô nhắc lại, không có chút mỉa mai nào.
Tôi ngồi trong góc, cuốn sổ trên đầu gối, không ghi gì cả. Tôi nhìn gương mặt hai cậu, thấy cái vẻ ngượng của những đứa trẻ đã làm đổ một thứ gì đó mà không hiểu nó quý đến mức nào. Rồi tôi hỏi, trước khi kịp nghĩ:
“Nó có đáp không?”
Anh chàng thấp hơn ngẩng đầu. Mắt cậu mở lớn trong ánh lửa. “Có,” cậu nói. “Chúng tôi gõ ba lần. Một lúc sau nó trả lời. Ba tiếng, rồi hai tiếng. Bọn tôi chạy.” Cậu nuốt khan. “Bọn tôi nghĩ có người ở trong.”
Bounmy, đang ngồi bên bếp cời than, dừng tay trong một nhịp rất ngắn. Ba, nghỉ, hai. Đúng nhịp mà tôi đã nghe trong phòng gác ở Thakhek.
Ông lại cời than. Than cháy đỏ lên trong tro, hắt sáng lên khuôn mặt ông. Không ai ở đó đoán được ông đang nghĩ gì, ngoài tôi, người đã học được rằng khi Bounmy im như vậy thì ông đang chuẩn bị nói một điều ông không muốn nói.
Chưa có bình luận cho chương này.